- 13913 S. Post Oak Rd, Houston TX 77045
- Phone: (281) 838-0535. Fax: (832) 550-2889
- Trụ Trì: Tỳ khưu Giác Đẳng
- Email: phapluan@gmail.com
- Web: chuaphapluan.com
- Xem bản đồ
Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA
Bài học ngày 25.3.2025
TUỆ GIÁC KHỞI SANH TỪ SỰ THẬT
Kinh Bāhiya (Bāhiyasuttaṃ)
Chương XXXV. Tương Ưng Sáu Xứ – Phẩm Channa (SN.35.89)
Chân lý trong cái nhìn của thiền giả tu tứ niệm xứ thì không xa xôi mà chính ở thân tâm, ở các giác quan. Chính ở đấy, hành giả nhận ra các thực tướng vô thường, khổ não, vô ngã. Cũng sự thấy biết tạo nên khả năng buông xả và thành tựu giải thoát. Mặc dù các giáo nghĩa đã được Đức Phật giảng dạy rộng rãi, nhưng mỗi cá nhân phải tự mình nếm trãi và nhận thức trực tiếp. Đó là con đường mà tất cả bậc giác ngộ đã đi. Không có cách khác.
Kinh Văn
89. atha kho āyasmā bāhiyo yena bhagavā tenupasaṅkami ... pe ... ekamantaṃ nisinno kho āyasmā bāhiyo bhagavantaṃ etadavoca — “sādhu me, bhante, bhagavā saṃkhittena dhammaṃ desetu, yamahaṃ bhagavato dhammaṃ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
“taṃ kiṃ maññasi, bāhiya, cakkhu niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti?
“aniccaṃ, bhante”.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti?
“dukkhaṃ, bhante”.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ — ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“no hetaṃ, bhante”.
“rūpā niccā vā aniccā vā”ti?
“aniccā, bhante” ... pe ... cakkhuviññāṇaṃ ... pe ... cakkhusamphasso ... pe ... yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti?
“aniccaṃ, bhante”.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti?
“dukkhaṃ, bhante”.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ — ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“no hetaṃ, bhante”.
“evaṃ passaṃ, bāhiya, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati, rūpesupi nibbindati, cakkhuviññāṇepi nibbindati, cakkhusamphassepi nibbindati ... pe ... yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tasmimpi nibbindati. nibbindaṃ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
atha kho āyasmā bāhiyo bhagavato bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā pakkāmi. atha kho āyasmā bāhiyo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva — yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti tadanuttaraṃ — brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi. “khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā”ti abbhaññāsi. aññataro ca panāyasmā bāhiyo arahataṃ ahosīti. chaṭṭhaṃ.
Bấy giờ Tôn giả Bāhiya ngồi xuống một bên và thưa với Đức Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn có thể thuyết giảng giáo pháp một cách tóm lược, để sau khi nghe xong, con có thể sống đơn độc, an tịnh, tinh tấn, nhiệt tâm và quyết chí tu tập, điều đó thật tốt lành.”
[Đức Phật hỏi:]
“Này Bāhiya, Thầy nghĩ thế nào, mắt là thường hay vô thường?”
“Bạch Thế Tôn, mắt là vô thường.”
“Những gì vô thường thì là khổ hay lạc?”
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”
“Những gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thì có hợp lý để xem đó là ‘của ta, là ta, là tự ngã của ta’ không?”
“Bạch Thế Tôn, không hợp lý.”
[Tương tự], sắc, nhãn thức, nhãn xúc và các cảm thọ phát sinh từ nhãn xúc đều là vô thường, khổ và không phải là ta.
[Tương tự với] tai, mũi, lưỡi, thân và ý, cũng như các thức, các xúc và cảm thọ phát sinh từ chúng—tất cả đều vô thường, khổ và không phải là tự ngã.
“Này Bāhiya, khi một vị đệ tử bậc Thánh thấy rõ như vậy, vị ấy nhàm chán đối với mắt… đối với ý, đối với xúc, đối với tất cả cảm thọ phát sinh từ xúc.”
Khi nhàm chán vị ấy buông xả. Khi buông xả, vị ấy giải thoát. Khi giải thoát, vị ấy hiểu biết với trí tuệ: “Đã được giải thoát.” Vị ấy biết rõ: “Sự tái sinh đã chấm dứt, phạm hạnh đã được hoàn thành, việc cần làm đã được làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa.”
Rồi Tôn giả Bāhiya, hoan hỷ và tán thán lời Thế Tôn, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, sau khi đảnh lễ Thế Tôn, thân bên phải hướng về ngài rồi ra đi.
Sau đó, sống một mình, viễn ly, tinh cần, nhiệt tâm và kiên định, Tôn giả Bāhiya tự mình chứng ngộ với tuệ tri, ngay trong đời này đã thành tựu và an trú mục đích tối thượng của phạm hạnh — mục đích mà vì đó các vị thiện nam rời bỏ gia đình sống không gia đình một cách chân chánh.
Vị ấy tự thân biết rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa.”
Và Tôn giả Bāhiya đã trở thành một vị A-la-hán.
Chú Thích
Nội dung của bài kinh này giống với nhiều bài kinh, khi chư tỳ khưu đến gặp Phật cầu pháp để “hạ thủ công phu”.
Tỳ khưu Bāhiya trong bài kinh này không phải là Bāhiya Dārucīriya, người mặc áo bện bằng vỏ cây thường được nhắc nhiều. Đọc thêm phần Sớ Giải để biết thêm về vị này.
Sớ Giải
tena ca samayena sāvatthivāsino bhuttapātarāsā uposathaṅgāni adhiṭṭhāya suddhuttarāsaṅgā gandhapupphādihatthā yena buddho, yena dhammo, yena saṅgho, tanninnā tappoṇā tappabbhārā hutvā, dakkhiṇadvārena nikkhamitvā jetavanaṃ gacchanti. so te disvā “kahaṃ ime gacchantī”ti ekaṃ manussaṃ pucchi. kiṃ tvaṃ, ayyo, na jānāsi? loke buddhadhammasaṅgharatanāni nāma uppannāni, icceso mahājano satthu santikaṃ dhammakathaṃ sotuṃ gacchatīti. tassa “buddho”ti vacanaṃ chavicammādīni chinditvā aṭṭhimiñjaṃ āhacca aṭṭhāsi. so attano parijanaparivuto tāya parisāya saddhiṃ vihāraṃ gantvā, satthu madhurassarena dhammaṃ desentassa parisapariyante ṭhito, dhammaṃ sutvā pabbajjāya cittaṃ uppādesi. atha tathāgatena kālaṃ viditvā parisāya uyyojitāya satthāraṃ upasaṅkamitvā, vanditvā, svātanāya nimantetvā, dutiyadivase maṇḍapaṃ kāretvā, āsanāni paññāpetvā, buddhappamukhassa saṅghassa mahādānaṃ datvā, bhuttapātarāso uposathaṅgāni adhiṭṭhāya bhaṇḍāgārikaṃ pakkosāpetvā, “ettakaṃ dhanaṃ vissajjitaṃ, ettakaṃ dhanaṃ na vissajjitan”ti sabbaṃ ācikkhitvā, “imaṃ sāpateyyaṃ mayhaṃ kaniṭṭhassa dehī”ti sabbaṃ niyyātetvā, satthu santike pabbajitvā, kammaṭṭhānaparāyaṇo ahosi.
Vào thời ấy, dân chúng ở thành Xá-vệ (Sāvatthi), sau khi thọ thực buổi sáng xong, giữ gìn các giới của ngày bát quan trai (uposatha), mặc y phục sạch sẽ màu trắng, tay cầm hoa thơm và hương, với tâm hướng về Phật, Pháp, Tăng, hướng tâm về ba ngôi báu ấy; họ đi ra khỏi thành bằng cổng phía nam và hướng đến tinh xá Kỳ Viên (Jetavana).
Lúc ấy, có một người (sau này là Bāhiya) nhìn thấy đám đông ấy, liền hỏi một người:
— “Những người này đi đâu vậy?”
Người kia trả lời:
— “Này ông, chẳng lẽ ông không biết sao? Trên đời này đã xuất hiện những viên ngọc quý: Phật, Pháp và Tăng! Và dân chúng đang đi đến gần bậc Đạo sư để nghe pháp.”
Nghe đến từ “Phật”, toàn thân ông ta như có gì thấm vào tận thịt, gân, xương tủy, chấn động sâu sắc và đứng lặng sững tại chỗ.
Sau đó, cùng với đoàn tùy tùng của mình, ông cũng đi đến tinh xá cùng với đám đông ấy. Khi ấy, Thế Tôn đang thuyết pháp với pháp âm vi diệu. Ông đứng ở ngoài đám đông, lắng nghe pháp và khi nghe xong thì khởi lên ý muốn xuất gia.
Sau đó, Đức Thế Tôn biết thời thích hợp, khi đã giải tán hội chúng, ông ta đến gần Đức Thế Tôn, đảnh lễ và thỉnh Ngài thọ thực vào hôm sau.
Đến ngày hôm sau, ông cho dựng một giảng đường (maṇḍapa), sắp xếp các chỗ ngồi và dâng một đại trai hội đến Đức Phật và Tăng đoàn do Phật dẫn đầu.
Sau khi dùng cơm xong, ông thọ trì bát quan trai giới, rồi cho gọi người quản lý kho tàng và nói:
— “Bấy nhiêu tài sản đã được phân phát, bấy nhiêu chưa được phân phát.”
Rồi ông kê khai toàn bộ tài sản và nói:
— “Hãy giao lại tất cả tài sản này cho em trai tôi.”
Sau đó, ông đến gần Đức Phật, xin xuất gia và từ đó trở thành người chuyên tâm vào thiền định (kammaṭṭhāna-parāyaṇo).
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
89. VI. Bàhiya (S.iv, 63)
1) ...
2) Rồi Tôn giả Bàhiya đi đến Thế Tôn...
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Bàhiya bạch Thế Tôn:
-- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vắn tắt thuyết pháp cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
4-8) -- Ông nghĩ thế nào, này Bàhiya, mắt là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Các sắc là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Nhãn thức... Nhãn xúc....
9)... Do duyên ý xúc này khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
10) -- Thấy vậy, này Bàhiya, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc... Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
11) Và Tôn giả Bàhiya trở thành một vị A-la-hán nữa.