Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || TRẠNG THÁI AN TĨNH THẬT SỰ - Kinh Bị Khuấy Động I & II (Paṭhama’ejāsuttaṃ) (Dutiya’ejāsuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || TRẠNG THÁI AN TĨNH THẬT SỰ - Kinh Bị Khuấy Động I & II (Paṭhama’ejāsuttaṃ) (Dutiya’ejāsuttaṃ)

Thứ ba, 01/04/2025, 03:45 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bāi học ngāy 26.3.2025

TRẠNG THÁI AN TĨNH THẬT SỰ

Kinh Bị Khuấy Động I & II (Paṭhama’ejāsuttaṃ) (Dutiya’ejāsuttaṃ)

Chương XXXV. Tương Ưng Sáu Xứ – Phẩm Channa (SN.35.90&91)

Tâm không bị chi phối, chao đảo là một bản lãnh quan trọng của người có tu tập và có thành tựu. Tuệ giác khiến tâm an nhiên là sự liễu tri bản chất phù ảo của căn, cảnh và thức. Tất cả những hào hứng, kích thích, thích thú đối với căn, cảnh chỉ là sự chi phối dao động không hơn không kém. Sự khác biệt giữa khổ, vui, mê, ngộ có lúc chỉ nằm trong gang tấc.

Kinh Văn

 90. “ejā, bhikkhave, rogo, ejā gaṇḍo, ejā sallaṃ. tasmātiha, bhikkhave, tathāgato anejo viharati vītasallo. tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya ‘anejo vihareyyaṃ {vihareyya (sī. pī. ka.)} vītasallo’ti, cakkhuṃ na maññeyya, cakkhusmiṃ na maññeyya, cakkhuto na maññeyya, cakkhu meti na maññeyya; rūpe na maññeyya, rūpesu na maññeyya, rūpato na maññeyya, rūpā meti na maññeyya; cakkhuviññāṇaṃ na maññeyya, cakkhuviññāṇasmiṃ na maññeyya, cakkhuviññāṇato na maññeyya, cakkhuviññāṇaṃ meti na maññeyya; cakkhusamphassaṃ na maññeyya, cakkhusamphassasmiṃ na maññeyya, cakkhusamphassato na maññeyya, cakkhusamphasso meti na maññeyya. yampidaṃ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṃ meti na maññeyya.

“sotaṃ na maññeyya ... pe ... ghānaṃ na maññeyya ... pe ... jivhaṃ na maññeyya, jivhāya na maññeyya, jivhāto na maññeyya, jivhā meti na maññeyya; rase na maññeyya ... pe ... jivhāviññāṇaṃ na maññeyya ... pe ... jivhāsamphassaṃ na maññeyya ... pe ... yampidaṃ jivhāsamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṃ meti na maññeyya.

“kāyaṃ na maññeyya ... pe ... manaṃ na maññeyya, manasmiṃ na maññeyya, manato na maññeyya, mano meti na maññeyya; dhamme na maññeyya ... pe ... mano viññāṇaṃ ... pe ... manosamphassaṃ ... pe ... yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṃ meti na maññeyya; sabbaṃ na maññeyya, sabbasmiṃ na maññeyya, sabbato na maññeyya, sabbaṃ meti na maññeyya.

“so evaṃ amaññamāno na kiñcipi loke upādiyati. anupādiyaṃ na paritassati. aparitassaṃ paccattaññeva parinibbāyati. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī”ti. sattamaṃ.

90. Kinh Bị Khuấy Động (1)

“Này các Tỳ khưu, bị khuấy động là một căn bệnh, bị khuấy động là một khối u, bị khuấy động là một mũi tên. Do vậy, này các Tỳ khưu, Như Lai trú không bị khuấy động, với mũi tên đã được nhổ ra. Vì thế, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu nên ước muốn rằng: ‘Mong rằng tôi sẽ trú không bị khuấy động, với mũi tên đã được nhổ ra!’ thì vị ấy không nên chấp thủ vào con mắt, không nên chấp thủ trong con mắt, không nên chấp thủ từ con mắt, không nên nghĩ rằng: ‘Con mắt là của tôi.’

Vị ấy không nên chấp thủ vào các sắc... thức nhãn... xúc nhãn... và bất kỳ cảm thọ nào khởi lên do duyên xúc nhãn... vị ấy không nên chấp thủ điều đó, không nên chấp thủ trong điều đó, không nên chấp thủ từ điều đó, không nên nghĩ rằng: ‘Cái đó là của tôi.’

Vị ấy không nên chấp thủ vào tai... không nên chấp thủ vào tâm... các pháp tâm sở... thức tâm... xúc tâm... và bất kỳ cảm thọ nào khởi lên do duyên xúc tâm... vị ấy không nên chấp thủ điều đó, không nên chấp thủ trong điều đó, không nên chấp thủ từ điều đó, không nên nghĩ rằng: ‘Cái đó là của tôi.’

Vị ấy không nên chấp thủ tất cả, không nên chấp thủ trong tất cả, không nên chấp thủ từ tất cả, không nên nghĩ rằng: ‘Tất cả là của tôi.’

Vì không chấp thủ như vậy, vị ấy không bám víu vào bất cứ điều gì trong đời. Không bám víu, vị ấy không bị khuấy động. Không bị khuấy động, vị ấy tự thân chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy hiểu rằng: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái sanh tử này nữa.”

91. Kinh Bị Khuấy Động II (Dutiya’ejāsuttaṃ)

91. “ejā, bhikkhave, rogo, ejā gaṇḍo, ejā sallaṃ. tasmātiha, bhikkhave, tathāgato anejo viharati vītasallo. tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya ‘anejo vihareyyaṃ vītasallo’ti, cakkhuṃ na maññeyya, cakkhusmiṃ na maññeyya, cakkhuto na maññeyya, cakkhu meti na maññeyya; rūpe na maññeyya... cakkhuviññāṇaṃ... cakkhusamphassaṃ... yampidaṃ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṃ meti na maññeyya. yañhi, bhikkhave, maññati, yasmiṃ maññati, yato maññati, yaṃ meti maññati, tato taṃ hoti aññathā. aññathābhāvī bhavasatto loko bhavameva abhinandati ... pe ....

“jivhaṃ na maññeyya, jivhāya na maññeyya, jivhāto na maññeyya, jivhā meti na maññeyya; rase na maññeyya... jivhāviññāṇaṃ... jivhāsamphassaṃ... yampidaṃ jivhāsamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṃ meti na maññeyya. yañhi, bhikkhave, maññati, yasmiṃ maññati, yato maññati, yaṃ meti maññati, tato taṃ hoti aññathā. aññathābhāvī bhavasatto loko bhavameva abhinandati ... pe ....

“manaṃ na maññeyya, manasmiṃ na maññeyya, manato na maññeyya, mano meti na maññeyya... manoviññāṇaṃ... manosamphassaṃ... yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṃ meti na maññeyya. yañhi, bhikkhave, maññati, yasmiṃ maññati, yato maññati, yaṃ meti maññati, tato taṃ hoti aññathā. aññathābhāvī bhavasatto loko bhavameva abhinandati.

“yāvatā, bhikkhave, khandhadhātuāyatanā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṃ meti na maññeyya. so evaṃ amaññamāno na kiñci loke upādiyati. anupādiyaṃ na paritassati. aparitassaṃ paccattaññeva parinibbāyati. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī”ti. aṭṭhamaṃ.

“Này các Tỳ khưu, bị khuấy động là một căn bệnh, bị khuấy động là một khối u, bị khuấy động là một mũi tên. Do vậy, này các Tỳ khưu, Như Lai trú không bị khuấy động, với mũi tên đã được nhổ ra. Vì thế, này các Tỳ khưu, nếu một Tỳ khưu ước muốn rằng: ‘Mong rằng tôi sẽ trú không bị khuấy động, với mũi tên đã được nhổ ra!’ thì vị ấy không nên chấp thủ vào con mắt... các sắc... thức nhãn... xúc nhãn... và bất kỳ cảm thọ nào khởi lên do duyên xúc nhãn... vị ấy không nên chấp thủ điều đó, không nên chấp thủ trong điều đó, không nên chấp thủ từ điều đó, không nên nghĩ rằng: ‘Cái đó là của tôi.’

Vì bất kỳ điều gì người ta chấp thủ, này các Tỳ khưu, bất kỳ điều gì người ta chấp thủ trong, chấp thủ từ, hay chấp thủ là ‘của tôi’ — điều ấy đều là vô thường. Thế gian, vốn vô thường, bị trói buộc vào hiện hữu, chỉ tìm lạc thú trong hiện hữu.

Vị ấy không nên chấp thủ vào tai... không nên chấp thủ vào tâm... các pháp tâm sở... thức tâm... xúc tâm... và bất kỳ cảm thọ nào khởi lên do duyên xúc tâm... vị ấy không nên chấp thủ điều đó, không nên chấp thủ trong điều đó, không nên chấp thủ từ điều đó, không nên nghĩ rằng: ‘Cái đó là của tôi.’ Vì bất kỳ điều gì người ta chấp thủ, này các Tỳ khưu, bất kỳ điều gì người ta chấp thủ trong, chấp thủ từ, hay chấp thủ là ‘của tôi’ — điều ấy đều là vô thường. Thế gian, vốn vô thường, bị trói buộc vào hiện hữu, chỉ tìm lạc thú trong hiện hữu.

Này các Tỳ khưu, bất kỳ phạm vi nào của các uẩn, các giới và các xứ, vị ấy không chấp thủ điều đó, không chấp thủ trong điều đó, không chấp thủ từ điều đó, không nghĩ rằng: ‘Cái đó là của tôi.’

Vì không chấp thủ như vậy, vị ấy không bám víu vào bất cứ điều gì trong đời. Không bám víu, vị ấy không bị khuấy động. Không bị khuấy động, vị ấy tự thân chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy hiểu rằng: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái sanh tử này nữa.”

Chú Thích

Chữ “ejā” có nghĩa là bị khấy động, bị chi phối. Theo bản Sớ giải chỉ cho ái nhiễm. Ngài Bodhi trong bản tiếng Anh dịch là “being stirred - bị khuấy động”

Một nội tâm ổn định, vững vàng trước những chi phối là do sự tu tập mà trong hai bài kinh này đặc biệt đề cập, nội tâm không ái chấp đối với sáu nội xứ và sáu ngoại xứ.

Theo Sớ giải, do đặc tính gây phiền não, được gọi là bệnh (rogo); do làm ô uế bên trong, được gọi là ung nhọt (gaṇḍo); do đặc tính đâm xuyên sâu, được gọi là mũi tên (sallaṃ).

Sớ Giải

90-91. sattame ejāti taṇhā. sā hi calanaṭṭhena ejāti vuccati. sāva ābādhanaṭṭhena rogo, anto dussanaṭṭhena gaṇḍo, nikantanaṭṭhena sallaṃ. tasmāti yasmā ejā rogo ceva gaṇḍo ca sallañca, tasmā. cakkhuṃ na maññeyyātiādi vuttanayameva, idhāpi sabbaṃ heṭṭhā gahitameva saṃkaḍḍhitvā dassitaṃ. aṭṭhamaṃ vuttanayameva.

90–91. Sattame ejāti tahā.
Trong bài kinh thứ bảy, “ejā” là ái (taṇhā). Vì sao? Vì nó có tính dao động, nên được gọi là ejā (ejati – dao động, lay chuyển).

Sā hi calanaṭṭhena ejāti vuccati.
Bởi vì, với đặc tính khuấy động, nên nó được gọi là “ejā”.

Sāva ābādhanaṭṭhena rogo, anto dussanaṭṭhena gaṇḍo, nikantanaṭṭhena sallaṃ.
Chính ái ấy, do đặc tính gây phiền não, được gọi là bệnh (rogo);
do làm ô uế bên trong, được gọi là ung nhọt (gaṇḍo);
do đặc tính đâm xuyên sâu, được gọi là mũi tên (sallaṃ).

Tasmāti yasmā ejā rogo ceva gaṇḍo ca sallañca, tasmā.
Vì thế, do ái là bệnh, là ung nhọt và là mũi tên, nên cần đoạn tận nó.

Cakkhuṃ na maññeyyātiādi vuttanayameva,
Phần “Không nên chấp vào con mắt…” v.v. là theo phương pháp đã giảng trước.

Idhāpi sabbaṃ heṭṭhā gahitameva saṃkaḍḍhitvā dassitaṃ.
Ở đây cũng vậy, tất cả những điều đã được trình bày ở phần trước, được tóm lược và lặp lại.

Aṭṭhamaṃ vuttanayameva.
Kinh thứ tám (tức đoạn tiếp theo) cũng được giảng theo cách tương tự như đã nêu.

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

90. VII. Ái Nhiễm (Ejà) (S.iv,64)

1) ...

2) -- Ái nhiễm, này các Tỳ khưu, là bệnh tật; ái nhiễm là mụt nhọt; ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỳ khưu, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.

3) Do vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu có ước vọng gì, hãy ước sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.

4) Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: "Mắt là của tôi". Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: "Các sắc là của tôi". Chớ có nghĩ đến nhãn thức, chớ có nghĩ đến trong nhãn thức, chớ có nghĩ đến từ nhãn thức, chớ có nghĩ đến: "Nhãn thức là của tôi". Chớ có nghĩ đến nhãn xúc, chớ có nghĩ đến trong nhãn xúc, chớ có nghĩ đến từ nhãn xúc, chớ có nghĩ đến: "Nhãn xúc là của tôi". Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: "Cảm thọ ấy là tôi".

5-6) Chớ có nghĩ đến tai... Chớ có nghĩ đến mũi...

7-8) Chớ có nghĩ đến lưỡi... Chớ có nghĩ đến thân...

9) Chớ có nghĩ đến ý, chớ có nghĩ đến trong ý, chớ có nghĩ đến từ ý, chớ có nghĩ đến: "Ý là của tôi". Chớ có nghĩ đến các pháp, chớ có nghĩ đến trong các pháp, chớ có nghĩ đến từ các pháp, chớ có nghĩ đến: "Các pháp là của tôi". Chớ có nghĩ đến ý thức, chớ có nghĩ đến trong ý thức, chớ có nghĩ đến từ ý thức, chớ có nghĩ đến: "Ý thức là của tôi". Chớ có nghĩ đến ý xúc, chớ có nghĩ đến trong ý xúc, chớ có nghĩ đến từ ý xúc, chớ có nghĩ đến: "Ý xúc là của tôi". Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: "Cảm thọ ấy là của tôi".

10) Chớ có nghĩ đến tất cả, chớ có nghĩ đến trong tất cả, chớ có nghĩ đến từ tất cả, chớ có nghĩ đến: "Tất cả là của tôi".

11) Vị ấy do không nghĩ đến nên không chấp thủ một vật gì ở đời. Do không chấp thủ, vị ấy không có dao động (paritassati). Do không dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".

91. VIII. Ái Nhiễm (S.iv,66)

1) ...

2) -- Ái nhiễm, này các Tỳ khưu, là bệnh tật, ái nhiễm là mụt nhọt, ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỳ khưu, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên bắn.

3) Do vậy, này các Tỳ khưu, nếu có mong ước, hãy mong ước không ái nhiễm, không bị mũi tên bắn.

4-6) Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: "Mắt là của ta". Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: "Các sắc là của ta". Chớ có nghĩ đến nhãn thức... Chớ có nghĩ đến nhãn xúc... Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: "Cảm thọ ấy là của ta". Này các Tỳ khưu, nghĩ đến cái gì, nghĩ đến trong cái gì, nghĩ đến từ cái gì, nghĩ đến: "Cái gì là của ta", từ đấy cái ấy đổi khác. Vì rằng bị đổi khác, vì chấp trước tái sanh (Bhavasatto), nên thế giới hoan hỷ tái sanh... tai... mũi...

7-8) ... lưỡi... thân...

9) Chớ có nghĩ đến ý, chớ có nghĩ đến trong ý, chớ có nghĩ đến từ ý, chớ có nghĩ đến: "Ý là của ta". Chớ có nghĩ đến các pháp, chớ có nghĩ đến trong các pháp, chớ có nghĩ đến từ các pháp, chớ có nghĩ đến: "Các pháp là của ta". Chớ có nghĩ đến ý thức, chớ có nghĩ đến trong ý thức, chớ có nghĩ đến từ ý thức, chớ có nghĩ đến: "Ý thức là của ta". Chớ có nghĩ đến ý xúc, chớ có nghĩ đến trong ý xúc, chớ có nghĩ đến từ ý xúc, chớ có nghĩ đến: "Ý xúc là của ta". Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: "Cảm thọ ấy là của ta". Này các Tỳ khưu, nghĩ đến cái gì, nghĩ đến trong cái gì, nghĩ đến từ cái gì, nghĩ đến: "Cái gì là của ta", từ đấy cái ấy đổi khác. Vì rằng bị đổi khác, vì chấp trước tái sanh, nên thế giới hoan hỷ tái sanh.

Này các Tỳ khưu, cho đến uẩn, giới, xứ... chớ có nghĩ đến cái ấy, chớ có nghĩ đến trong cái ấy, chớ có nghĩ đến từ cái ấy, chớ có nghĩ đến: "Cái ấy là của ta". Vị ấy không nghĩ đến như vậy nên không chấp thủ một cái gì trong đời. Do không chấp thủ nên không có dao động. Do không có dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".

Ý kiến bạn đọc