Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || PHÀM TÂM, THÁNH TRÍ CÁCH NHAU GANG TẤC - Kinh Tôn Giả Channa (Palokadhammasuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || PHÀM TÂM, THÁNH TRÍ CÁCH NHAU GANG TẤC - Kinh Tôn Giả Channa (Palokadhammasuttaṃ)

Thứ năm, 20/03/2025, 01:34 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 19.3.2025

PHÀM TÂM, THÁNH TRÍ CÁCH NHAU GANG TẤC

Kinh Tôn Giả Channa (Palokadhammasuttaṃ)

Chương XXXV. Tương Ưng Sáu Xứ – Phẩm Channa (SN.35.87)

Không dễ để lượng định tâm ý sau cùng của một người lâm chung. Càng khó hơn nữa là một người chứng vô lậu giải thoát trong giây phút sau cùng. Chỉ có Đấng Thế Gian Giải mới thật sự biết rõ. Một người đã vật vả với cơn đau khốc liệt, muốn tự kết liễu sự sống để chấm dứt nỗi khổ khôn cùng, thế mà nhờ tuệ giải thoát đã đoạn luôn cả sự trầm thống của trầm luân sanh tử quả là điều hạn hữu.

Kinh Văn

87. ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. tena kho pana samayena āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahācundo āyasmā ca channo gijjhakūṭe pabbate viharanti. tena kho pana samayena yena āyasmā channo ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno. atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahācundo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ mahācundaṃ etadavoca — “āyāmāvuso cunda, yenāyasmā channo tenupasaṅkamissāma gilānapucchakā”ti. “evamāvuso”ti kho āyasmā mahācundo āyasmato sāriputtassa paccassosi.

 atha kho āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahācundo yenāyasmā channo tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṃsu. nisajja kho āyasmā sāriputto āyasmantaṃ channaṃ etadavoca — “kacci te, āvuso channa, khamanīyaṃ, kacci yāpanīyaṃ, kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti no abhikkamanti, paṭikkamosānaṃ paññāyati no abhikkamo”ti?

“na me, āvuso sāriputta, khamanīyaṃ na yāpanīyaṃ, bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti no paṭikkamanti, abhikkamosānaṃ paññāyati no paṭikkamo. seyyathāpi, āvuso, balavā puriso tiṇhena sikharena {khaggena (ka.)} muddhani {muddhānaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)} abhimattheyya {abhimantheyya (sī.)}; evameva kho, āvuso, adhimattā vātā muddhani {muddhānaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)} ūhananti {upahananti (sī. syā. kaṃ. pī. ka.), uhananti (ka.)} . na me, āvuso, khamanīyaṃ, na yāpanīyaṃ ... pe ... no paṭikkamo. seyyathāpi, āvuso, balavā puriso daḷhena varattakkhaṇḍena sīse sīsaveṭhaṃ dadeyya; evameva kho, āvuso, adhimattā sīse sīsavedanā. na me, āvuso, khamanīyaṃ, na yāpanīyaṃ ... pe ... no paṭikkamo. seyyathāpi, āvuso, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā tiṇhena govikantanena kucchiṃ parikanteyya; evameva kho adhimattā vātā kucchiṃ parikantanti. na me, āvuso, khamanīyaṃ, na yāpanīyaṃ ... pe ... no paṭikkamo. seyyathāpi, āvuso, dve balavanto purisā dubbalataraṃ purisaṃ nānābāhāsu gahetvā aṅgārakāsuyā santāpeyyuṃ samparitāpeyyuṃ; evameva kho, āvuso, adhimatto kāyasmiṃ ḍāho. na me, āvuso, khamanīyaṃ, na yāpanīyaṃ, bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti no paṭikkamanti, abhikkamosānaṃ paññāyati no paṭikkamo. satthaṃ, āvuso sāriputta, āharissāmi, nāvakaṅkhāmi {nāpi kaṅkhāmi (ka.)} jīvitan”ti.

 “mā āyasmā channo satthaṃ āharesi. yāpetāyasmā channo, yāpentaṃ mayaṃ āyasmantaṃ channaṃ icchāma. sace āyasmato channassa natthi sappāyāni bhojanāni, ahaṃ āyasmato channassa sappāyāni bhojanāni pariyesissāmi. sace āyasmato channassa natthi sappāyāni bhesajjāni, ahaṃ āyasmato channassa sappāyāni bhesajjāni pariyesissāmi. sace āyasmato channassa natthi patirūpā upaṭṭhākā, ahaṃ āyasmantaṃ channaṃ upaṭṭhahissāmi. mā āyasmā channo satthaṃ āharesi. yāpetāyasmā channo, yāpentaṃ mayaṃ āyasmantaṃ channaṃ icchāmā”ti.

“na me, āvuso sāriputta, natthi sappāyāni bhojanāni; atthi me sappāyāni bhojanāni. napi me natthi sappāyāni bhesajjāni; atthi me sappāyāni bhesajjāni. napi me natthi patirūpā upaṭṭhākā; atthi me patirūpā upaṭṭhākā. api ca me, āvuso, satthā pariciṇṇo dīgharattaṃ manāpeneva, no amanāpena. etañhi, āvuso, sāvakassa patirūpaṃ yaṃ satthāraṃ paricareyya manāpeneva, no amanāpena. ‘anupavajjaṃ {taṃ anupavajjaṃ (bahūsu)} channo bhikkhu satthaṃ āharissatī’ti — evametaṃ, āvuso sāriputta, dhārehī”ti.

“puccheyyāma mayaṃ āyasmantaṃ channaṃ kañcideva {kiñcideva (syā. kaṃ. pī. ka.)} desaṃ, sace āyasmā channo okāsaṃ karoti pañhassa veyyākaraṇāyā”ti. “pucchāvuso sāriputta, sutvā vedissāmā”ti.

“cakkhuṃ, āvuso channa, cakkhuviññāṇaṃ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasi ... pe ... jivhaṃ, āvuso channa, jivhāviññāṇaṃ jivhāviññāṇaviññātabbe dhamme ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasi ... pe ... manaṃ, āvuso channa, manoviññāṇaṃ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?

“cakkhuṃ, āvuso sāriputta, cakkhuviññāṇaṃ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi ... pe ... jivhaṃ, āvuso sāriputta, jivhāviññāṇaṃ jivhāviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi ... pe ... manaṃ, āvuso sāriputta, manoviññāṇaṃ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmī”ti.

“cakkhusmiṃ, āvuso channa, cakkhuviññāṇe cakkhuviññāṇaviññātabbesu dhammesu kiṃ disvā kiṃ abhiññāya cakkhuṃ cakkhuviññāṇaṃ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasi... jivhāya, āvuso channa, jivhāviññāṇe jivhāviññāṇaviññātabbesu dhammesu kiṃ disvā kiṃ abhiññāya jivhaṃ jivhāviññāṇaṃ jivhāviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasi... manasmiṃ, āvuso channa, manoviññāṇe manoviññāṇaviññātabbesu dhammesu kiṃ disvā kiṃ abhiññāya manaṃ manoviññāṇaṃ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasī”ti?

“cakkhusmiṃ, āvuso sāriputta, cakkhuviññāṇe cakkhuviññāṇaviññātabbesu dhammesu nirodhaṃ disvā nirodhaṃ abhiññāya cakkhuṃ cakkhuviññāṇaṃ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi ... pe ... jivhāya, āvuso sāriputta, jivhāviññāṇe jivhāviññāṇaviññātabbesu dhammesu nirodhaṃ disvā nirodhaṃ abhiññāya jivhaṃ jivhāviññāṇaṃ jivhāviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi ... pe ... manasmiṃ, āvuso sāriputta, manoviññāṇe manoviññāṇaviññātabbesu dhammesu nirodhaṃ disvā nirodhaṃ abhiññāya manaṃ manoviññāṇaṃ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmī”ti.

evaṃ vutte, āyasmā mahācundo āyasmantaṃ channaṃ etadavoca — “tasmātiha, āvuso channa, idampi tassa bhagavato sāsanaṃ niccakappaṃ sādhukaṃ manasi kātabbaṃ — ‘nissitassa calitaṃ, anissitassa calitaṃ natthi. calite asati passaddhi hoti. passaddhiyā sati nati na hoti. natiyā asati āgatigati na hoti. āgatigatiyā asati cutūpapāto na hoti. cutūpapāte asati nevidha na huraṃ na ubhayamantarena. esevanto dukkhassā’”ti.

atha kho āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahācundo āyasmantaṃ channaṃ iminā ovādena ovaditvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṃsu. atha kho āyasmā channo acirapakkantesu tesu āyasmantesu satthaṃ āharesi.

 atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṃ etadavoca — “āyasmatā, bhante, channena satthaṃ āharitaṃ. tassa kā gati ko abhisamparāyo”ti? “nanu te, sāriputta, channena bhikkhunā sammukhāyeva anupavajjatā byākatā”ti? “atthi, bhante, pubbavijjanaṃ {pubbaviciraṃ (sī.), pubbavijjhanaṃ (pī.), pubbajiraṃ (ma. ni. 3.394} nāma vajjigāmo. tatthāyasmato channassa mittakulāni suhajjakulāni upavajjakulānī”ti. “honti hete, sāriputta, channassa bhikkhuno mittakulāni suhajjakulāni upavajjakulāni. na kho panāhaṃ, sāriputta, ettāvatā saupavajjoti vadāmi. yo kho, sāriputta, tañca kāyaṃ nikkhipati, aññañca kāyaṃ upādiyati, tamahaṃ saupavajjoti vadāmi. taṃ channassa bhikkhuno natthi. ‘anupavajjaṃ channena bhikkhunā satthaṃ āharitan’ti — evametaṃ, sāriputta, dhārehī”ti. catutthaṃ.

Một thuở, Đức Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, trong rừng Trúc, chỗ nuôi sóc. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Mahācunda và Tôn giả Channa đang trú trên đỉnh núi Linh Thứu. Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh nặng, đau đớn vô cùng.

Vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta từ chỗ tịnh cư bước ra, đến gặp Tôn giả Mahācunda và nói:
– “Này hiền giả Cunda, chúng ta hãy đến thăm Tôn giả Channa và hỏi thăm về bệnh tình của ông ấy.”

Tôn giả Mahācunda đáp:
– “Thưa vâng, Tôn giả.”

Hai vị liền đi đến chỗ Tôn giả Channa, chào hỏi và an tọa. Sau đó, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Channa:
– “Này hiền giả Channa, mong rằng ông chịu đựng được, mong rằng bệnh tình thuyên giảm. Mong rằng những cảm thọ đau đớn của ông đang giảm bớt, chứ không gia tăng.”

Tôn giả Channa đáp:
– “Này hiền giả Sāriputta, tôi không thể chịu đựng được, bệnh tình không thuyên giảm. Những cảm thọ đau đớn của tôi ngày càng gia tăng, chứ không giảm bớt.
Giống như có một người mạnh mẽ bổ đầu tôi bằng một thanh kiếm sắc bén, những luồng gió dữ dội đang cắt xuyên qua đầu tôi. Tôi không thể chịu đựng được…
Giống như một người mạnh mẽ siết chặt dây da quanh đầu tôi, cơn đau đầu của tôi thật khủng khiếp. Tôi không thể chịu đựng được…
Giống như một người đồ tể khéo léo dùng dao sắc cắt vào bụng một con bò, những cơn đau trong bụng tôi như bị dao cắt. Tôi không thể chịu đựng được…
Giống như hai người mạnh mẽ bắt giữ một người yếu đuối và quăng ông ta vào đống than hồng đang cháy rực, cả cơ thể tôi bị thiêu đốt dữ dội. Tôi không thể chịu đựng được…
Những cảm thọ đau đớn của tôi ngày càng gia tăng, chứ không giảm bớt. Tôi sẽ tự sát, này hiền giả Sāriputta. Tôi không muốn sống nữa.”

Tôn giả Sāriputta liền khuyên can:
– “Này hiền giả Channa, đừng tự sát. Hãy sống tiếp tục! Chúng tôi mong hiền giả tiếp tục sống. Nếu hiền giả thiếu thức ăn thích hợp, tôi sẽ đi tìm thức ăn cho hiền giả. Nếu hiền giả thiếu thuốc men, tôi sẽ đi tìm thuốc men. Nếu hiền giả cần người chăm sóc, tôi sẽ chăm sóc hiền giả. Xin hiền giả Channa đừng tự sát. Hãy tiếp tục sống!”

Tôn giả Channa đáp:
– “Này hiền giả Sāriputta, tôi không thiếu thức ăn, tôi có đủ thức ăn. Tôi không thiếu thuốc men, tôi có đủ thuốc men. Tôi cũng không thiếu người chăm sóc. Hơn nữa, tôi đã phụng sự Đức Thế Tôn một cách đúng đắn, không sai trái. Đối với một vị đệ tử, điều thích hợp là phải phụng sự bậc Đạo Sư một cách đúng đắn. Xin hãy nhớ điều này, hiền giả Sāriputta: Tôi sẽ tự sát mà không có lỗi.”

Tôn giả Sāriputta nói:
– “Này hiền giả Channa, chúng tôi muốn hỏi hiền giả một điều. Nếu hiền giả cho phép, xin hãy trả lời.”

Tôn giả Channa nói:
– “Hãy hỏi đi, hiền giả Sāriputta. Khi tôi nghe xong, tôi sẽ biết.”

Tôn giả Sāriputta hỏi:
– “Này hiền giả Channa, hiền giả có xem con mắt, nhãn thức và các pháp được nhận thức qua nhãn thức là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không? Hiền giả có xem tai… ý thức và các pháp được nhận thức qua ý thức là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?”

Tôn giả Channa trả lời:
– “Này hiền giả Sāriputta, tôi xem con mắt, nhãn thức và các pháp được nhận thức qua nhãn thức như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Tôi cũng xem tai… ý thức và các pháp được nhận thức qua ý thức theo cách như vậy.”

Tôn giả Sāriputta hỏi:
– “Này hiền giả Channa, điều gì khiến hiền giả nhận ra như vậy?”

Tôn giả Channa đáp:
– “Này hiền giả Sāriputta, vì tôi đã thấy rõ và trực tiếp nhận ra sự đoạn diệt của con mắt, của nhãn thức và các pháp được nhận thức qua nhãn thức. Vì vậy, tôi không chấp thủ vào chúng. Tôi cũng đã thấy rõ sự đoạn diệt của tai, ý thức và các pháp được nhận thức qua ý thức, nên tôi không chấp thủ vào chúng.”

Khi nghe vậy, Tôn giả Mahācunda liền nhắc nhở:
– “Này hiền giả Channa, hãy luôn ghi nhớ lời dạy của Đức Thế Tôn: ‘Người còn sở y thì còn dao động. Người không sở y thì không dao động. Khi không dao động, tâm khinh an. Khi tâm khinh an, không còn khát ái. Khi không còn khát ái, không còn tái sinh. Khi không còn tái sinh, không có đây, không có kia, không có ở giữa. Đó chính là sự chấm dứt khổ đau.’”

Sau khi giảng dạy như vậy, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahācunda rời đi. Không lâu sau đó, Tôn giả Channa đã dùng dao để kết thúc mạng sống.

 Sau khi nghe tin, Tôn giả Sāriputta đến gặp Đức Phật, đảnh lễ Ngài và bạch rằng:
– “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Channa đã tự sát. Xin hỏi, số phận của vị ấy ra sao? Vị ấy tái sinh về đâu?”

Đức Phật đáp:
– “Này Sāriputta, chẳng phải Channa đã tuyên bố ngay trước mặt Thầy rằng vị ấy không có lỗi sao?”

Tôn giả Sāriputta bạch tiếp:
– “Bạch Thế Tôn, có một ngôi làng của dân Vajji tên là Pubbavijjhana. Ở đó, Tôn giả Channa có nhiều gia đình thân cận mật thiết và ủng hộ.”

Đức Phật nói:
– “Đúng vậy, này Sāriputta, Channa có những gia đình thân cận, nhưng Như Lai không nói rằng chỉ vì điều đó mà vị ấy có lỗi. Này Sāriputta, khi một người từ bỏ thân này để tái sinh vào một thân khác, lúc đó Như Lai mới nói rằng người ấy có lỗi. Nhưng điều này không xảy ra với Channa. Vị ấy đã tự sát một cách không có lỗi. Hãy nhớ kỹ điều này, Sāriputta.”

Chú Thích

Vị Channa Trong Kinh này cũng xuất hiện trong Trung Bộ Kinh, số 144 (MN 144), Channovāda Sutta.

Vị Channa trong kinh này khác với Channa (Xa Nặc xuất hiện trong kinh SN 22.90).

Sớ Giải chú thích rằng, mô tả về nỗi đau dữ dội của Tôn giả Channa là các mô típ quen thuộc trong kinh điển, cho thấy sự chịu đựng đến mức cùng cực.

"Satham aharissami" – có nghĩa là "Ta sẽ dùng dao", tức là tự sát.

 "Anupavajjaṁ Channo bhikkhu satthaṁ āharissati" – Tôn giả Channa khẳng định rằng mình không có lỗi khi đưa ra quyết định này.

Sớ Giải chú thích rằng từ "anupavajja" (không có gì chê trách) theo nghĩa: "Không còn tái sinh" (appavattika) và "Không còn tái tục" (appatisandhika). Điều này ngụ ý rằng tỳ khưu Channa đang ám chỉ mình là bậc A-la-hán, không còn tái sinh sau khi từ bỏ thân này.

Sớ Giải chú thích Tôn giả Sāriputta biết rằng Channa vẫn còn là phàm phu, nhưng không muốn tranh luận, nên giữ im lặng. Trong khi đó, Tôn giả Mahācunda khuyên Channa bằng cách nhắc lại lời dạy của Đức Phật về sự buông bỏ mọi sở y. Điều này cho thấy hai vị đại đệ tử nhận ra rằng Channa không thực sự là một bậc A-la-hán tại thời điểm đó.

Theo Udāna 81,6–10: ‘Người còn sở y thì còn dao động. Người không sở y thì không dao động. Khi không dao động, tâm khinh an. Khi tâm khinh an, không còn khát ái. Khi không còn khát ái, không còn tái sinh. Khi không còn tái sinh, không có đây, không có kia, không có ở giữa. Đó chính là sự chấm dứt khổ đau. Sớ Giải chú thích như sau:

"Sở y" là do tham ái, ngã mạn và tà kiến.

"Dao động" là do chưa buông bỏ hoàn toàn.

Tôn giả Channa đau đớn tột cùng vì vẫn còn chấp vào cảm thọ, nên Mahācunda khuyên Ngài quán chiếu để buông bỏ.

Về sự thành tựu đạo quả của Tôn giả Channa, Sớ Giải chú thích: Khi Tôn giả Channa cắt động mạch cổ, sự sợ hãi cái chết khởi lên. Lúc đó, khiến Channa nhận ra mình vẫn còn là phàm phu. Ngay lập tức, Ngài quán chiếu sâu sắc về vô thường, phát triển tuệ minh sát, đạt đến A-la-hán quả và nhập viên tịch ngay sau đó. Điều này có nghĩa là Tôn giả Channa đã tự sát khi vẫn còn là phàm phu, nhưng trong những giây phút cuối, Ngài đã chứng đạt A-la-hán quả và do đó chết trong trạng thái chứng vô dư Niết-bàn, không còn tái sinh.

Khi Tôn giả Sāriputta hỏi Đức Phật về số phận của Channa, Đức Phật nói: "Channa đã tự tuyên bố vô tội ngay trước mặt con, đúng không?"

Lời tuyên bố này xảy ra khi Channa vẫn là phàm phu, nhưng vì ngay sau đó Ngài đã nhập Niết-bàn, nên Đức Phật vẫn xác nhận Channa vô tội. Điều này có thể gây hiểu lầm. Nếu chỉ đọc kinh văn, có vẻ như Channa đã là A-la-hán ngay khi tuyên bố điều đó. Nhưng theo sớ giải, thực tế là Ngài chỉ đạt A-la-hán ngay khoảnh khắc trước khi chết.

Câu chuyện này không thể được xem là một trường hợp A-la-hán tự sát vì chán ghét thân xác, mà đúng hơn, là một sự chứng đắc A-la-hán ngay trong cơn đau đớn tột cùng.

Kinh văn đề cập rằng Channa có nhiều gia đình cư sĩ thân thiết hỗ trợ. Điều này gây tranh luận, vì theo truyền thống một vị tỳ-kheo không nên quá thân thiết với cư sĩ. Tuy nhiên, Đức Phật xác nhận rằng điều đó không ảnh hưởng đến sự giải thoát của Channa. Sāriputta hỏi về sự thân cận của Channa với cư sĩ, nhưng Đức Phật bác bỏ mối lo ngại đó và nói rằng Channa không còn chấp thủ nữa.

Sớ Giải

♦ 87. catutthe channoti evaṃnāmako thero, na abhinikkhamanaṃ nikkhantathero. paṭisallānāti phalasamāpattito. gilānapucchakāti gilānupaṭṭhākā. gilānupaṭṭhānaṃ nāma buddhapasatthaṃ buddhavaṇṇitaṃ, tasmā evamāha. sīsaveṭhaṃ dadeyyāti sīse veṭhanaṃ sīsaveṭhaṃ, tañca dadeyya. satthanti jīvitahārakasatthaṃ. nāvakaṅkhāmīti na icchāmi. pariciṇṇoti paricarito. manāpenāti manavaḍḍhanakena kāyakammādinā. ettha ca satta sekhā paricaranti nāma, arahā paricārī nāma, bhagavā pariciṇṇo nāma.

♦ etañhi, āvuso, sāvakassa patirūpanti, āvuso, sāvakassa nāma etaṃ anucchavikaṃ. anupavajjanti appavattikaṃ appaṭisandhikaṃ. pucchāvuso sāriputta, sutvā vedissāmāti ayaṃ sāvakapavāraṇā nāma. etaṃ mamātiādīni taṇhāmānadiṭṭhiggāhavasena vuttāni. nirodhaṃ disvāti khayavayaṃ ñatvā. netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attāti samanupassāmīti aniccaṃ dukkhaṃ anattāti samanupassāmi. ettakesu ṭhānesu channatthero sāriputtattherena pucchitaṃ pañhaṃ arahatte pakkhipitvā kathesi. sāriputtatthero pana tassa puthujjanabhāvaṃ ñatvāpi taṃ “puthujjano”ti vā “khīṇāsavo”ti vā avatvā tuṇhīyeva ahosi. cundatthero panassa puthujjanabhāvaṃ saññāpessāmīti cintetvā ovādaṃ adāsi.

♦ tattha tasmāti yasmā māraṇantikaṃ vedanaṃ adhivāsetuṃ asakkonto satthaṃ āharāmīti vadati, tasmā puthujjano āyasmā, tena idampi manasikarohīti dīpeti. yasmā vā channaṃ āyatanānaṃ nirodhaṃ disvā cakkhādīni tiṇṇaṃ gāhānaṃ vasena na samanupassāmīti vadasi. tasmā idampi tassa bhagavato sāsanaṃ āyasmatā manasikātabbantipi puthujjanabhāvameva dīpento vadati. niccakappanti niccakālaṃ. nissitassāti taṇhāmānadiṭṭhīhi nissitassa. calitanti vipphanditaṃ hoti. yathayidaṃ āyasmato uppannaṃ vedanaṃ adhivāsetuṃ asakkontassa “ahaṃ vedayāmi, mama vedanā”ti appahīnaggāhassa idāni vipphanditaṃ hoti, imināpi naṃ “puthujjanova tvan”ti vadati.

♦ passaddhīti kāyacittapassaddhi, kilesapassaddhi nāma hotīti attho. natiyāti taṇhānatiyā. asatīti bhavatthāya ālayanikantipariyuṭṭhāne asati. āgatigati na hotīti paṭisandhivasena āgati nāma, cutivasena gamanaṃ nāma na hoti. cutūpapātoti cavanavasena cuti, upapajjanavasena upapāto. nevidha na huraṃ na ubhayamantarenāti na idhaloke na paraloke na ubhayattha hoti. esevanto dukkhassāti vaṭṭadukkhakilesadukkhassa ayameva anto ayaṃ paricchedo parivaṭumabhāvo hoti. ayameva hi ettha attho. ye pana “ubhayamantarenā”ti vacanaṃ gahetvā antarābhavaṃ icchanti, tesaṃ vacanaṃ niratthakaṃ. antarābhavassa hi bhāvo abhidhamme paṭikkhittoyeva. “antarenā”ti vacanaṃ pana vikappantaradīpanaṃ. tasmā ayamettha attho — neva idha na huraṃ, aparo vikappo na ubhayanti.

♦ satthaṃ āharesīti jīvitahārakasatthaṃ āhari, āharitvā kaṇṭhanāḷaṃ chindi. athassa tasmiṃ khaṇe maraṇabhayaṃ okkami, gatinimittaṃ upaṭṭhāsi. so attano puthujjanabhāvaṃ ñatvā, saṃviggacitto vipassanaṃ paṭṭhapetvā, saṅkhāre pariggaṇhanto arahattaṃ patvā, samasīsī hutvā parinibbuto. sammukhāyeva anupavajjatā byākatāti kiñcāpi idaṃ therassa puthujjanakāle byākaraṇaṃ hoti; etena pana byākaraṇena anantarāyamassa parinibbānaṃ ahosi. tasmā bhagavā tadeva byākaraṇaṃ gahetvā kathesi.

♦ upavajjakulānīti upasaṅkamitabbakulāni. iminā thero, “bhante, evaṃ upaṭṭhākesu ca upaṭṭhāyikāsu ca vijjamānāsu so bhikkhu tumhākaṃ sāsane parinibbāyissatī”ti pubbabhāgapaṭipattiyaṃ kulasaṃsaggadosaṃ dassento pucchati. athassa bhagavā kulesu saṃsaggābhāvaṃ dīpento honti hete sāriputtātiādimāha. imasmiṃ kira ṭhāne therassa kulesu asaṃsaṭṭhabhāvo pākaṭo ahosi. sesaṃ sabbattha uttānameva.

Ý nghĩa của bản sớ giải cho bài kinh này rất dài. Tất cả được ghi lại trong phần chú thích nên không có bài dịch ở đây.

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

87. IV. Channa (S.iv,55)

1) Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta, Tôn giả Mahà Cunda và Tôn giả Channa trú ở núi Gijjhakù.

3) Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

4) Rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Cunda; sau khi đến nói với Tôn giả Mahà Cunda:

-- Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Tôn giả Channa để hỏi thăm về bệnh hoạn.

-- Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Mahà Cunda vâng đáp Tôn giả Sàriputta.

5) Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Cunda đi đến Tôn giả Channa, sau khi đến ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

6-7) Sau khi ngồi, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Channa:

-- Này Hiền giả Channa, Hiền giả có kham nhẫn được chăng? Có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?

-- Thưa Hiền giả Sàriputta tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.

8) Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu.

9) Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh. Cũng vậy, này Hiền giả, tôi cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Này Hiền giả, tôi không thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu.

10) Này Hiền giả, ví như một người đồ tể thiện xảo hay một đệ tử người đồ tể mổ bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng cắt mổ bụng của tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu.

11) Này Hiền giả, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm một người yếu hơn với những cánh tay của mình, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Hiền giả, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân tôi. Này Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.

12) Thưa Hiền giả Sàriputta, tôi sẽ đem lại con dao. Tôi không muốn sống nữa.

13) -- Tôn giả Channa, chớ có đem lại con dao! Tôn giả Channa, hãy chịu đựng! Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng. Nếu Tôn giả Channa không có các món ăn, không có các dược phẩm thích hợp, thời tôi sẽ tìm các dược phẩm thích hợp cho Tôn giả Channa. Nếu Tôn giả Channa không có người hầu hạ thích ứng, thời tôi sẽ hầu hạ Tôn giả Channa. Tôn giả Channa chớ có đem lại con dao. Tôn giả Channa hãy chịu đựng. Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng.

14) -- Thưa Hiền giả Sàriputta, không phải tôi không có các món ăn thích hợp, tôi có các món ăn thích hợp. Không phải tôi không có các dược phẩm thích hợp, tôi có các dược phẩm thích hợp. Không phải tôi không có những người hầu hạ thích ứng, tôi có những người hầu hạ thích ứng. Ðã lâu ngày tôi hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Ðây, thưa Hiền giả, là xứng đáng với người đệ tử. Vì rằng đã hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Không có phạm tội, nếu Tỷ-kheo Channa đem lại con dao. Này Hiền giả Sàriputta, Hiền giả hãy thọ trì như vậy.

15) -- Chúng tôi sẽ hỏi Tôn giả Channa một câu, nếu Tôn giả Channa kham nhẫn được hỏi và trả lời.

-- Hãy hỏi đi, Hiền giả Sàriputta, sau khi nghe, chúng ta sẽ biết.

16) -- Này Hiền giả Channa, mắt, nhãn thức, những pháp do nhãn thức nhận biết, Hiền giả có quán: " Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?... Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Này Hiền giả Channa, ý, ý thức, các pháp do ý thức nhận biết, Hiền giả có quán: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?

17) -- Này Hiền giả Sàriputta, mắt, nhãn thức, các pháp do nhãn thức nhận biết, tôi quán: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

18) -- Này Hiền giả Channa, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, do thấy gì, do thắng tri gì mà Hiền giả quán: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi"?

19) -- Thưa Hiền giả Sàriputta, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Trong tai... Trong mũi... Trong lưỡi... Trong thân.. Thưa Hiền giả... Trong ý, trong ý thức, trong các pháp do ý thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

20) Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Mahà Cunda nói với Tôn giả Channa:

-- Hiền giả Channa, Hiền giả cần phải luôn luôn chú ý đến lời dạy này của Thế Tôn: "Ai còn tham luyến, thời có dao động; ai không tham luyến, thời không dao động. Ai không dao động, thời được khinh an. Ai được khinh an, thời không thiên chấp. Ai không thiên chấp (nati), thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi, thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh, thời không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời. Ðây là sự đoạn tận đau khổ".

21) Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Cunda, sau khi giáo giới Tôn giả Channa với lời giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

22) Tôn giả Channa, sau khi hai vị Tôn giả ấy đi không bao lâu, liền đem lại con dao.

23) Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

24) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Channa đã đem lại con dao. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau vị ấy sẽ như thế nào?

-- Có phải trước mặt Ông, này Sàriputta, Tỷ-kheo Channa đã tuyên bố là không phạm tội?

25) -- Thưa có, bạch Thế Tôn. Có một làng của dân tộc Vajji tên là Pubbavijjhamam; tại đấy, có những gia đình thân hữu, có những gia đình thân thích với Tôn giả Channa, chính những gia đình ấy mới có lỗi.

26) -- Này Sàriputta, những gia đình thân hữu và những gia đình thân thích ấy của Tôn giả Channa là những gia đình có lỗi. Tuy vậy, này Sàriputta, với sự việc như vậy, Ta không nói Channa là có lỗi. Này Sàriputta, ai bỏ thân này và chấp thủ thân khác; người ấy, Ta nói là có lỗi. Nhưng Tỷ-kheo Channa thời không vậy. Tỷ-kheo Channa không có tội lỗi khi đem lại con dao. Này Sàriputtra, Ông cần phải thọ trì như vậy.

Ý kiến bạn đọc