- 13913 S. Post Oak Rd, Houston TX 77045
- Phone: (281) 838-0535. Fax: (832) 550-2889
- Trụ Trì: Tỳ khưu Giác Đẳng
- Email: phapluan@gmail.com
- Web: chuaphapluan.com
- Xem bản đồ
Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA
Bài học ngày 8.3.2025
MUỐN HẾT VÔ MINH PHẢI BỎ VÔ MINH
Kinh Đoạn Tận Vô Minh I (Paṭhamāvijjāpahānasuttaṃ)
Kinh Đoạn Tận Vô Minh II (Dutiyāvijjāpahānasuttaṃ)
Chương XXXV. Tương Ưng Sáu Xứ – Phẩm Bệnh (SN.35.79 & 80)
Vô minh được xem là căn cội của phiền não. Vô minh không phải chỉ có mặt trong tâm si, mà hiện hữu trong tất cả tâm bất thiện. Hơn thế nữa, tất cả nghiệp tạo tác dẫn tới sanh tử đều có sự chi phối của vô minh. Muốn hết vô minh phải đoạn tận vô minh. Không có con đường nào khác. Đây là lý do tại sao cánh cửa vào sự giải thoát hoàn toàn chính là tuệ giác – pháp đối lập với vô minh.
Kinh Văn
79. Kinh Đoạn Tận Vô Minh I
79. atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami ... pe ... ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca — “atthi nu kho, bhante, eko dhammo yassa pahānā bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjatī”ti?
atthi kho, bhikkhu, eko dhammo yassa pahānā bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjatī”ti.
“katamo pana, bhante, eko dhammo yassa pahānā bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjatī”ti?
“avijjā kho, bhikkhu, eko dhammo yassa pahānā bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjatī”ti.
“kathaṃ pana, bhante, jānato, kathaṃ passato bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjatī”ti?
“cakkhuṃ kho, bhikkhu, aniccato jānato passato bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjati. rūpe... cakkhuviññāṇaṃ... cakkhusamphassaṃ... yampidaṃ, cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi aniccato jānato passato bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjati ... pe ... manaṃ aniccato jānato passato bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjati. dhamme... manoviññāṇaṃ... manosamphassaṃ... yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi aniccato jānato passato bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjati. evaṃ kho, bhikkhu, jānato evaṃ passato bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjatī”ti. chaṭṭhaṃ.
Một vị Tỳ khưu đi đến Đức Thế Tôn, đảnh lễ và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, có một pháp nào mà khi từ bỏ, vị Tỳ khưu có thể đoạn trừ vô minh và thành tựu chánh trí không?”
Đức Phật dạy:
“Có một pháp, này Tỳ khưu, khi từ bỏ, vị Tỳ khưu có thể đoạn trừ vô minh và thành tựu chánh trí.”
“Bạch Thế Tôn, đó là pháp gì?”
“Vô minh, này Tỳ khưu, chính là pháp ấy. Khi từ bỏ vô minh, vị Tỳ khưu có thể đoạn trừ vô minh và thành tựu chánh trí.”
“Nhưng, bạch Thế Tôn, vị Tỳ khưu phải biết và thấy như thế nào để có thể từ bỏ vô minh và thành tựu chánh trí?”
[Đức Phật dạy:]
“Này Tỳ khưu, khi một vị Tỳ khưu biết và thấy mắt là vô thường, thì vô minh được đoạn trừ và chánh trí phát sinh. Khi vị ấy biết và thấy sắc là vô thường…
tai... mũi... lưỡi... thân... ý...
khi vị ấy biết và thấy cảm thọ sinh khởi do duyên với xúc của ý là vô thường, thì vô minh được đoạn trừ và chánh trí phát sinh.
“Này Tỳ khưu, khi một vị Tỳ khưu biết và thấy như vậy, vô minh sẽ bị đoạn trừ và chánh trí sẽ sanh khởi.”
80. Kinh Đoạn Tận Vô Minh II
80. atha kho aññataro bhikkhu ... pe ... etadavoca — “atthi nu kho, bhante, eko dhammo yassa pahānā bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjatī”ti?
“atthi kho, bhikkhu, eko dhammo yassa pahānā bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjatī”ti.
“katamo pana, bhante, eko dhammo yassa pahānā bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjatī”ti?
“avijjā kho, bhikkhu, eko dhammo yassa pahānā bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjatī”ti.
“kathaṃ pana, bhante, jānato, kathaṃ passato avijjā pahīyati, vijjā uppajjatī”ti?
“idha, bhikkhu, bhikkhuno sutaṃ hoti — ‘sabbe dhammā nālaṃ abhinivesāyā’ti. evañcetaṃ, bhikkhu, bhikkhuno sutaṃ hoti — ‘sabbe dhammā nālaṃ abhinivesāyā’ti. so sabbaṃ dhammaṃ abhijānāti, sabbaṃ dhammaṃ abhiññāya sabbaṃ dhammaṃ parijānāti, sabbaṃ dhammaṃ pariññāya sabbanimittāni aññato passati, cakkhuṃ aññato passati, rūpe... cakkhuviññāṇaṃ... cakkhusamphassaṃ... yampidaṃ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi aññato passati ... pe ... manaṃ aññato passati, dhamme... manoviññāṇaṃ... manosamphassaṃ... yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi aññato passati. evaṃ kho, bhikkhu, jānato evaṃ passato bhikkhuno avijjā pahīyati, vijjā uppajjatī”ti. sattamaṃ.
“Nhưng, bạch Thế Tôn, vị Tỳ khưu phải biết và thấy như thế nào để có thể từ bỏ vô minh và thành tựu chánh trí?”
[Đức Phật dạy:]
“Này Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đã nghe rằng: 'Không có gì đáng để chấp thủ'. Khi vị ấy đã nghe rằng: 'Không có gì đáng để chấp thủ', thì vị ấy sẽ trực nhận tất cả các pháp. Khi đã trực nhận tất cả các pháp, vị ấy sẽ thấu triệt tất cả. Khi đã thấu triệt tất cả, vị ấy sẽ thấy tất cả tướng theo cách khác. Vị ấy sẽ thấy mắt theo cách khác, thấy sắc theo cách khác… thấy bất kỳ cảm thọ nào sinh khởi do duyên với xúc của tâm cũng theo cách khác.
“Này Tỳ khưu, khi một vị Tỳ khưu biết và thấy như vậy, vô minh sẽ bị đoạn trừ và chánh trí sẽ sanh khởi.”
Chú Thích
Câu nói “phải từ bỏ vô minh để từ bỏ vô minh” nghe có vẻ lặp lại, nhưng thực chất nhấn mạnh rằng vô minh là nguyên nhân căn bản nhất của sự trói buộc trong luân hồi. Nếu không đoạn trừ vô minh, thì mọi sự trói buộc khác vẫn còn tồn tại. Vì vậy, để giải thoát hoàn toàn, trước hết phải tận diệt vô minh.
Phần đầu của lời dạy này, từ “Người ấy hiểu rõ tất cả pháp…” được tìm thấy trong các bài kinh khác như MN I 251, AN IV 88, nhưng phần tiếp theo có khác biệt.
Sớ giải chú thích câu “Người ấy thấy tất cả các tướng theo cách khác” (sabbanimittāni aññato passati):
Người ấy thấy tất cả các tướng của pháp hữu vi (saṅkhāranimittāni) theo một cách khác so với những người chưa thấu triệt sự chấp thủ (upādāna).
Người chưa hiểu rõ chấp thủ (apariññātābhiniveso jano) thấy tất cả các pháp như có tự ngã (attato).
Người đã hiểu rõ chấp thủ (pariññātābhiniveso) thấy tất cả các pháp là vô ngã (anattato), không phải là tự ngã (no attato).
Sớ Giải
79. chaṭṭhe aniccato jānatoti dukkhānattavasena jānatopi pahīyatiyeva, idaṃ pana aniccalakkhaṇaṃ dassetvā vutte bujjhanakassa ajjhāsayena vuttaṃ.
79. Trong kinh số sáu
"Aniccato jānatoti" – Khi một người biết rõ về vô thường, thì dù nhận thức theo khía cạnh khổ và vô ngã, vô minh vẫn bị đoạn trừ.
Tuy nhiên, trong đoạn kinh này, Đức Phật chỉ rõ đặc tính vô thường để giúp những người có căn cơ phù hợp có thể tỉnh ngộ và hiểu ra chân lý.
80. sattame sabbe dhammāti sabbe tebhūmakadhammā. nālaṃ abhinivesāyāti abhinivesaparāmāsaggāhena gaṇhituṃ na yuttā. sabbanimittānīti sabbāni saṅkhāranimittāni. aññato passatīti yathā apariññātābhiniveso jano passati, tato aññato passati. apariññātābhiniveso hi jano sabbanimittānipi attato passati. pariññātābhiniveso pana anattato passati, no attatoti evaṃ imasmiṃ sutte anattalakkhaṇameva kathitaṃ.
80. Trong kinh số bảy
"Sabbe dhammā" – Nghĩa là tất cả các pháp thuộc ba cõi (dục giới, sắc giới, vô sắc giới).
"Nālaṃ abhinivesāya" – Không nên chấp thủ, bám víu vào các pháp với tâm chấp trước, dính mắc và nắm giữ sai lầm.
"Sabbanimittāni" – Nghĩa là tất cả các tướng của các pháp hữu vi.
"Aññato passatī" – Người trí thấy các pháp khác với cách mà người vô minh thường thấy.
Người vô minh (apariññātābhiniveso jano) thấy tất cả tướng của pháp hữu vi như là “có tự ngã” (attato).
Người có trí tuệ (pariññātābhiniveso) thấy các pháp như là vô ngã (anattato), không phải có tự ngã (no attato).
Tóm lại, bài kinh này chỉ rõ đặc tính vô ngã (anattalakkhaṇa), giúp hành giả buông bỏ chấp ngã để đạt đến trí tuệ giải thoát.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn.
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu để tham khảo thêm.
79.VI. Vô Minh (I) (S.iv,49)
1) ...
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...
3) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Có một pháp gì, bạch Thế Tôn, nếu Tỷ-kheo đoạn tận pháp ấy, thời vô minh được đoạn tận và minh sanh khởi?
-- Có một pháp, này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận pháp ấy, vô minh được đoạn tận, minh sanh khởi.
4) -- Một pháp ấy là gì, bạch Thế Tôn, nếu Tỷ-kheo đoạn tận pháp ấy, vô minh được đoạn tận và minh sanh khởi?
-- Vô minh, này Tỷ-kheo, là một pháp, nếu Tỷ-kheo đoạn tận pháp ấy, vô minh được đoạn tận, minh sanh khởi.
5) -- Tỷ-kheo biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi?
6) -- Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết mắt, thấy mắt là vô thường nên vô minh đoạn tận, minh sanh khởi... tai... mũi...
7-11) ... lưỡi... thân... ý...
12) Này Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy nên vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.
80.VII. Vô Minh (2) (S.iv,50)
1-5) (Như kinh trước)
6) -- Ở đây, này Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có nghe: "Các pháp không nên thiên chấp". Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy nghe như sau: "Tất cả các pháp không nên thiên chấp", vị ấy thắng tri tất cả các pháp. Do liễu tri tất cả pháp nên thấy tất cả tướng có thể thay đổi... Vị ấy thấy con mắt có thể thay đổi... các sắc... nhãn thức... nhãn xúc... Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy thấy cảm thọ ấy có thể thay đổi.
7) Này Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo biết vậy, thấy vậy nên vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.