Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || LẤY THƯỚC MÀ ĐO LÒNG NGƯỜI - Kinh Cặp Bài Trùng I & II (Paṭhamadvayasuttaṃ) (Dutiyadvayasuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || LẤY THƯỚC MÀ ĐO LÒNG NGƯỜI - Kinh Cặp Bài Trùng I & II (Paṭhamadvayasuttaṃ) (Dutiyadvayasuttaṃ)

Thứ ba, 01/04/2025, 04:05 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 29.3.2025

LẤY THƯỚC MÀ ĐO LÒNG NGƯỜI

Kinh Cặp Bài Trùng I & II (Paṭhamadvayasuttaṃ) (Dutiyadvayasuttaṃ)

Chương XXXV. Tương Ưng Sáu Xứ – Phẩm Channa (SN.35.92&93)

Tâm thức vốn vô chừng, biến đổi, khó đoán. Bời vì tâm sanh chịu ảnh hưởng căn và cảnh. Mà cảnh của thế gian trùng trùng duyên khởi. Thế giới được tiếp nhận vào lòng qua các căn môn. Tác nhân vốn bất toàn thì tác phẩm không thể hoàn hảo. Ai sống giữa cuộc trầm luân mà nghĩ rằng có thể khiến tâm độc lập với cảnh là ảo tưởng.

A person and person looking at a computer

AI-generated content may be incorrect.

Kinh Văn

 92. Kinh Cặp Bài Trùng I

92. “dvayaṃ vo, bhikkhave, desessāmi. taṃ suṇātha. kiñca, bhikkhave, dvayaṃ? cakkhuñceva rūpā ca, sotañceva saddā ca, ghānañceva gandhā ca, jivhā ceva rasā ca, kāyo ceva phoṭṭhabbā ca, mano ceva dhammā ca — idaṃ vuccati, bhikkhave, dvayaṃ.

 “yo, bhikkhave, evaṃ vadeyya — ‘ahametaṃ dvayaṃ paccakkhāya aññaṃ dvayaṃ paññapessāmī’ti, tassa vācāvatthukamevassa. puṭṭho ca na sampāyeyya. uttariñca vighātaṃ āpajjeyya. taṃ kissa hetu? yathā taṃ, bhikkhave, avisayasmin”ti. navamaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, Ta sẽ giảng cho các thầy về cặp bài trùng. Hãy lắng nghe…

“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là bài trùng? Mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và mùi, lưỡi và vị, thân và xúc chạm, ý và cảnh pháp — đó được gọi là bài trùng.

“Này các Tỳ-khưu, nếu có ai nói rằng: ‘Tôi sẽ từ bỏ cặp bài trùng này và trình bày một cặp bài trùng khác’ — thì đó chỉ là lời khoe khoang trống rỗng. Nếu bị chất vấn, người ấy sẽ không thể trả lời và hơn nữa, sẽ gặp phải phiền não và bối rối. Vì sao vậy? Này các Tỳ-khưu, bởi vì điều đó không thuộc lĩnh vực hiểu biết của người ấy.”

93. Kinh Cặp Bài Trùng II

93. “dvayaṃ, bhikkhave, paṭicca viññāṇaṃ sambhoti. kathañca, bhikkhave, dvayaṃ paṭicca viññāṇaṃ sambhoti? cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ. cakkhu aniccaṃ vipariṇāmi aññathābhāvi. rūpā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino. itthetaṃ dvayaṃ calañceva byathañca aniccaṃ vipariṇāmi aññathābhāvi. cakkhuviññāṇaṃ aniccaṃ vipariṇāmi aññathābhāvi. yopi hetu yopi paccayo cakkhuviññāṇassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. aniccaṃ kho pana, bhikkhave, paccayaṃ paṭicca uppannaṃ cakkhuviññāṇaṃ kuto niccaṃ bhavissati! yā kho, bhikkhave, imesaṃ tiṇṇaṃ dhammānaṃ saṅgati sannipāto samavāyo, ayaṃ vuccati cakkhusamphasso. cakkhusamphassopi anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. yopi hetu yopi paccayo cakkhusamphassassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. aniccaṃ kho pana, bhikkhave, paccayaṃ paṭicca uppanno cakkhusamphasso kuto nicco bhavissati! phuṭṭho, bhikkhave, vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho sañjānāti. itthetepi dhammā calā ceva byathā ca aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino. sotaṃ ... pe ....

 “jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṃ. jivhā aniccā vipariṇāmī aññathābhāvī {vipariṇāminī aññathābhāvinī (?)} . rasā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino. itthetaṃ dvayaṃ calañceva byathañca aniccaṃ vipariṇāmi aññathābhāvi. jivhāviññāṇaṃ aniccaṃ vipariṇāmi aññathābhāvi. yopi hetu yopi paccayo jivhāviññāṇassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. aniccaṃ kho pana, bhikkhave, paccayaṃ paṭicca uppannaṃ jivhāviññāṇaṃ, kuto niccaṃ bhavissati! yā kho, bhikkhave, imesaṃ tiṇṇaṃ dhammānaṃ saṅgati sannipāto samavāyo, ayaṃ vuccati jivhāsamphasso. jivhāsamphassopi anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. yopi hetu yopi paccayo jivhāsamphassassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. aniccaṃ kho pana, bhikkhave, paccayaṃ paṭicca uppanno jivhāsamphasso, kuto nicco bhavissati! phuṭṭho, bhikkhave, vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho sañjānāti. itthetepi dhammā calā ceva byathā ca aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino. kāyaṃ ... pe ....

 “manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṃ. mano anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. dhammā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino. itthetaṃ dvayaṃ calañceva byathañca aniccaṃ vipariṇāmi aññathābhāvi. manoviññāṇaṃ aniccaṃ vipariṇāmi aññathābhāvi. yopi hetu yopi paccayo manoviññāṇassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. aniccaṃ kho pana, bhikkhave, paccayaṃ paṭicca uppannaṃ manoviññāṇaṃ, kuto niccaṃ bhavissati! yā kho, bhikkhave, imesaṃ tiṇṇaṃ dhammānaṃ saṅgati sannipāto samavāyo, ayaṃ vuccati manosamphasso. manosamphassopi anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. yopi hetu yopi paccayo manosamphassassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. aniccaṃ kho pana, bhikkhave, paccayaṃ paṭicca uppanno manosamphasso, kuto nicco bhavissati! phuṭṭho, bhikkhave, vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho sañjānāti. itthetepi dhammā calā ceva byathā ca aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino. evaṃ kho, bhikkhave, dvayaṃ paṭicca viññāṇaṃ sambhotī”ti. dasamaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, thức khởi lên tùy thuộc vào một cặp bài trùng. Và thế nào là thức khởi lên tùy thuộc vào một cặp bài trùng? Tùy thuộc vào mắt và sắc, nhãn thức khởi lên. Mắt là vô thường, biến đổi, trở thành khác; sắc là vô thường, biến đổi, trở thành khác. Như vậy, cặp bài trùng này là chuyển động và dao động, vô thường, biến đổi, trở thành khác.

Nhãn thức là vô thường, biến đổi, trở thành khác. Nhân và duyên để khởi lên nhãn thức cũng là vô thường, biến đổi, trở thành khác. Này các Tỳ-khưu, khi nhãn thức khởi lên do tùy thuộc vào điều kiện vô thường, thì làm sao nó có thể là thường hằng?

Sự gặp gỡ, sự tương tác, sự kết hợp của ba yếu tố này được gọi là xúc của mắt (nhãn xúc). Nhãn xúc cũng là vô thường, biến đổi, trở thành khác. Nhân và duyên cho sự khởi lên của nhãn xúc cũng là vô thường, biến đổi, trở thành khác. Này các Tỳ-khưu, khi nhãn xúc khởi lên tùy thuộc vào điều kiện vô thường, thì làm sao nó có thể là thường hằng?

Này các Tỳ-khưu, khi có xúc thì cảm thọ khởi lên, khi có xúc thì ý định khởi lên, khi có xúc thì tưởng khởi lên. Như vậy, những pháp này cũng là chuyển động và dao động, vô thường, biến đổi, trở thành khác.

Tùy thuộc vào tai và tiếng, nhĩ thức khởi lên…

… Tùy thuộc vào ý và cảnh, ý thức khởi lên. Ý là vô thường, biến đổi, trở thành khác; cảnh pháp là vô thường, biến đổi, trở thành khác. Như vậy, cặp bài trùng này là chuyển động và dao động, vô thường, biến đổi, trở thành khác.

Ý thức là vô thường, biến đổi, trở thành khác. Nhân và duyên cho sự khởi lên của ý thức cũng là vô thường, biến đổi, trở thành khác. Này các Tỳ-khưu, khi ý thức khởi lên do điều kiện vô thường, thì làm sao nó có thể là thường hằng?

Sự gặp gỡ, tương tác và kết hợp của ba yếu tố này được gọi là ý xúc. Ý xúc cũng là vô thường, biến đổi, trở thành khác. Nhân và duyên cho sự khởi lên của ý xúc cũng là vô thường, biến đổi, trở thành khác. Này các Tỳ-khưu, khi ý xúc khởi lên tùy thuộc vào điều kiện vô thường, thì làm sao nó có thể là thường hằng?

Này các Tỳ-khưu, khi có xúc thì cảm thọ khởi lên, khi có xúc thì ý định khởi lên, khi có xúc thì tưởng khởi lên. Như vậy, những pháp này cũng là chuyển động và dao động, vô thường, biến đổi, trở thành khác.

Này các Tỳ-khưu, chính theo cách này mà thức khởi lên tùy thuộc vào một cặp bài trùng.”

Chú Thích

Các giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác theo Phật Pháp thì luôn bị chi phối bởi hai yếu tố là căn và cảnh. Trong lúc căn sanh khởi do nghiệp quá khứ thì cảnh tốt xấu cũng do nghiệp. Trường hợp của ý và cảnh pháp thì khác: có thể là quả hoặc nhân hay không phải cả hai. Sự tương thích mật thiết giữa căn và cảnh là bí ẩn lớn của cuộc sống. Thí dụ, các trú căn của chúng sanh chỉ thích hợp với cảnh nào đó. Cùng là sầu riêng có người xem là “được ăn” lại có kẻ xem là “bị ăn”.

Hai bài kinh này, nói về tâm thức luôn bị chi phối bởi các cặp bài trùng như nhãn thức tạo thành do mắt và cảnh sắc. Khi cặp bài trùng đó “dao động và đổi thay” thì thị giác cũng mang bản chất tương tự. Đó là áo nghĩa của vô thường, khổ não, vô ngã.

Bản Sớ Giải ghi rằng:"Calañ c’eva byathañ ca” nghĩa là 'chuyển động và dao động', bởi vì tự tánh của pháp là không kiên cố, nên nó chuyển động và dao động."

Hậu Sớ Giải thì chú thích: "Byathati nghĩa là nó run rẩy do tuổi già và cái chết."

So sánh thêm với từ điển MW (Monier-Williams), mục từ vyath – nghĩa là: "run rẩy, dao động, tiêu tan, thất bại".

Câu Phật ngôn: “Phuṭṭho bhikkhave vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho sañjānāti.

"Này các Tỳ-khưu, khi có xúc chạm thì thọ sinh khởi, khi có xúc thì tư sinh khởi, khi có xúc thì tưởng sinh khởi."

Câu này cho thấy sự hiện diện của ba uẩn: Cảm thọ (vedanā), Hành (cetanā), Tưởng (saññā).

Như vậy, đối với mỗi căn (xứ) vật lý, năm uẩn đều được giới thiệu đầy đủ:

Căn và cảnh thuộc về sắc uẩn (rūpakkhandha).

Thức tương ứng là thức uẩn (viññāṇakkhandha).

Ba uẩn còn lại (cảm thọ, hành, tưởng) phát sinh từ xúc (phassa).

Trong trường hợp của ý căn, thì trú căn của tâm (vatthu) cũng được cộng luôn.

Sớ Giải

92-93. navame dvayanti dve dve koṭṭhāse. dasame itthetaṃ dvayanti evametaṃ dvayaṃ. calañceva byathañcāti attano sabhāvena asaṇṭhahanato calati ceva byathati ca. yopi hetu yopi paccayoti cakkhuviññāṇassa vatthārammaṇaṃ hetu ceva paccayo ca. kuto niccaṃ bhavissatīti kena kāraṇena niccaṃ bhavissati. yathā pana dāsassa dāsiyā kucchismiṃ jāto putto parova dāso hoti, evaṃ aniccameva hotīti attho. saṅgatīti sahagati. sannipātoti ekato sannipatanaṃ. samavāyoti ekato samāgamo. ayaṃ vuccati cakkhusamphassoti iminā saṅgatisannipātasamavāyasaṅkhātena paccayena uppannattā paccayanāmeneva saṅgati sannipāto samavāyoti ayaṃ vuccati cakkhusamphasso. ♦ sopi hetūti phassassa vatthu ārammaṇaṃ sahajātā tayo khandhāti ayaṃ hetu. phuṭṭhoti upayogatthe paccattaṃ, phassena phuṭṭhameva gocaraṃ vedanā vedeti, cetanā ceteti, saññā sañjānātīti attho. phuṭṭhoti vā phassasamaṅgīpuggalo, phassena phuṭṭhārammaṇameva vedanādīhi vedeti ceteti sañjānātītipi vuttaṃ hoti. iti imasmiṃ sutte samatiṃsakkhandhā kathitā honti. kathaṃ? cakkhudvāre tāva vatthu ceva ārammaṇañca rūpakkhandho, phuṭṭho vedetīti vedanākkhandho, cetetīti saṅkhārakkhandho, sañjānātīti saññākkhandho, vijānātīti viññāṇakkhandhoti. sesadvāresupi eseva nayo. manodvārepi hi vatthurūpaṃ ekantato rūpakkhandho, rūpe pana ārammaṇe sati ārammaṇampi rūpakkhandhoti cha pañcakātiṃsa honti. saṅkhepena panete chasupi dvāresu pañceva khandhāti sapaccaye pañcakkhandhe aniccāti vitthāretvā vuccamāne bujjhanakānaṃ ajjhāsayena idaṃ suttaṃ desitanti.

92–93. “Cặp đôi” (Dvaya)

Navame dvayanti: Trong bài kinh thứ chín, từ “cặp đôi” (dvaya) có nghĩa là “cặp bài trùng”.

Dasame itthetaṃ dvayanti: Ở Kinh thứ mười, nói rằng “cặp đôi là như vậy”, ý chỉ cặp đôi được giải thích như thế.

“Calañ c’eva byathañ ca”: Câu này nghĩa là “chuyển động và dao động”. Vì bản chất của pháp là không vững bền, nên nó vừa chuyển động vừa dao động.

Yopi hetu yopi paccayo: “Cái gì là nhân, cái gì là duyên” – tức là mắt và sắc làm nhân và duyên cho nhãn thức.

“Kuto niccaṃ bhavissati?” – Làm sao nó có thể thường hằng? Nghĩa là với lý do gì mà nó lại có thể thường hằng?

Ví dụ: Như một đứa trẻ sinh ra từ bụng của một nữ nô lệ, thì nó cũng là nô lệ giống cha mẹ – tương tự như vậy, mọi pháp phát sinh từ vô thường thì bản thân nó cũng vô thường. Đây là ý nghĩa.


Về “Xúc” (Phassa):

Saṅgati: là sự đồng hành (sahagati).
Sannipāta: là sự tập hợp.
Samavāya: là sự hòa quyện.

Ba yếu tố này – gặp gỡ, tụ họp, tương tác – được gọi là nhãn xúc (cakkhu-samphassa). Do sự sinh khởi của chúng dựa vào điều kiện như vậy, nên xúc có tên là saṅgati, sannipāta và samavāya.


Sopi hetu – “Xúc cũng là nhân”:

  • Vatthu (trú căn) và ārammaṇa (cảnh) cùng với ba uẩn sinh khởi đồng thời là nhân duyên cho xúc.
  • Phuṭṭho: có nghĩa là “bị chạm đến” (theo cách sử dụng ngữ pháp cách chủ động – upayogavacana).

Khi xúc chạm, thì các pháp như:

  • Vedanā (thọ) cảm nhận cảnh.
  • Cetanā (tư) chủ tâm tạo tác.
  • Saññā (tưởng) nhận thức.

Cũng có thể hiểu "phuṭṭho" là người được xúc chạm, tức là chúng sinh đang trải nghiệm, người ấy nhận biết đối tượng qua ba yếu tố: cảm thọ, tác ý và tưởng.


Trong bài kinh này, ba mươi uẩn (sattiṃsa khandhā) được trình bày rõ ràng. Cách phân tích như sau:

Ở nhãn môn (cakkhudvāra):

    • Vatthu (nhãn vật) và ārammaṇa (cảnh sắc) thuộc sắc uẩn (rūpakkhandha),
    • Phuṭṭho vedeti – là cảm thọ uẩn,
    • Ceteti – là hành uẩn,
    • Sañjānāti – là tưởng uẩn,
    • Vijānāti – là thức uẩn.
      → Như vậy đủ năm uẩn.
  • Các cửa giác quan còn lại (tai, mũi, lưỡi, thân) cũng tương tự.

→ Tổng cộng, có sáu mônba mươi uẩn (5 uẩn × 6 xứ) – gọi là cha pañcakātiṃsa.

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

92. IX. Cả Hai (S.iv,67)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về cả hai. Hãy lắng nghe. Này các Tỷ-kheo, thế nào là cả hai?

3) Mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các hương, lưỡi và các vị, thân và các xúc, ý và các pháp. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là cả hai.

4) Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Sau khi đoạn tận hai cái này, tôi sẽ trình bày hai cái khác"; thời người ấy chỉ nói suông, nếu hỏi, người ấy không có thể chứng minh, còn có thể rơi vào ách nạn.

5) Vì sao? Vì rằng vấn đề ấy vượt ngoài phạm vi của người ấy.

93. X. Cả Hai (S.iv,67)

1) ...

2) -- Do duyên cả hai, này các Tỷ-kheo, thức hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, thế nào là do duyên cả hai, thức hiện hữu?

3) Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn thức. Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các sắc là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Như vậy, cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là nhãn xúc. Nhãn xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn xúc khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn xúc này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ trở thành thường còn được? Do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.

4) Và do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức...

5) Và do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức...

6) Và do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức...

7) Và do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức...

8) Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Ý là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các pháp là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ở đây, cả hai cái này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ý thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho ý thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý thức khởi lên do duyên vô thường, thời từ đâu sẽ thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là ý xúc. Ý xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh là đổi khác. Do nhân gì, duyên gì khiến ý xúc sanh khởi; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý xúc khởi lên do duyên vô thường, từ đâu sẽ là thường còn được? Này các Tỷ-kheo, do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường biến hoại, tự tánh đổi khác.

9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên cả hai, thức hiện hữu.

Ý kiến bạn đọc