Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || BIẾT ƠN VÀ TÌM CÁCH BÁO ĐÁP - Kinh Con Giả Can II (Dutiyasiṅgālasuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || BIẾT ƠN VÀ TÌM CÁCH BÁO ĐÁP - Kinh Con Giả Can II (Dutiyasiṅgālasuttaṃ)

Thứ ba, 02/01/2024, 17:55 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 2.1.2024

BIẾT ƠN VÀ TÌM CÁCH BÁO ĐÁP

Kinh Con Giả Can II (Dutiyasiṅgālasuttaṃ)

Tập II – Thiên Nhân Duyên

Chương XI. Tương Ưng Thí Dụ (S,ii,272)

Trong rất nhiều tài liệu, ghi nhận những trường hợp loài vật biết ơn con người, khi được cứu trong cơn hiểm nạn. Chẳng những biết ơn mà còn tìm cách báo ơn. Trong bài kinh này, Đức Phật cũng dùng sự việc đó để nói về những người vô ơn, ngay cả một số người xuất gia theo Phật Pháp, so ra kém hơn loài vật về phương diện biết cảm kích những gì người khác làm cho mình. Cũng theo lời Phật dạy, lòng biết ơn và tìm cách báo ơn là đức tánh khó tìm ở đời..

Kinh văn

Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘assuttha no tumhe, bhikkhave, rattiyā paccūsasamayaṃ jarasiṅgālassa vassamānassā’’ti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Siyā kho, bhikkhave, tasmiṃ jarasiṅgāle yā kāci kataññutā kataveditā, na tveva idhekacce sakyaputtiyapaṭiññe siyā yā kāci kataññutā kataveditā. Tasmātiha, bhikkhave, evaṃ sikkhitabbaṃ – ‘kataññuno bhavissāma katavedino; na ca no amhesu appakampi kataṃ nassissatī’ti . Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabba’’nti.

... Ngự tại Sāvatthi.

-- Này chư Tỳ khưu, các Thầy có nghe con giả can già đang tru lúc rạng đông?

-- Dạ có, bạch Đức Thế Tôn.

-- Này chư Tỳ khưu, ở con giả can đó, có thể có sự cảm kích và tri ân, trong lúc có kẻ tự nhận là người theo Bậc Thích Già lại không biết tri ân và cảm kích.

Này chư Tỳ khưu, do vậy các thầy cần tu tập như sau: “Chúng ta sẽ cảm kích và tri ân, chúng ta sẽ không xem thường những gì người khác làm cho mình dù là nhỏ nhoi”

Này chư Tỳ khưu, các thầy cần tu tập như vậy.

Chú Thích

Theo Sớ Giải, thì lòng biết ơn của con giả can, liên quan tới chuyện con giả can bị một con trăn quấn và được bác nông dân cứu. Khi con trăn quay sang tấn công và cuộn chặt bác nông dân, thì con giả can chạy vào làng kêu cứu. Nhờ vậy, những người anh em của bác nông dân giải nguy kịp thời.

Theo Sớ Giải, thì “kẻ tự nhận là người theo Bậc Thích Già, lại không biết tri ân và cảm kích” trong bài kinh này là Devadatta (Đề bà đạt đa).

Tỳ khưu Giác Đẳng soạn dịch

12. Dutiyasiṅgālasuttaṃ

234. Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘assuttha no tumhe, bhikkhave, rattiyā paccūsasamayaṃ jarasiṅgālassa vassamānassā’’ti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Siyā kho, bhikkhave, tasmiṃ jarasiṅgāle yā kāci kataññutā kataveditā, na tveva idhekacce sakyaputtiyapaṭiññe siyā yā kāci kataññutā kataveditā. Tasmātiha, bhikkhave, evaṃ sikkhitabbaṃ – ‘kataññuno bhavissāma katavedino; na ca no [na ca noti idaṃ sī. pī. potthakesu natthi] amhesu appakampi kataṃ nassissatī’ti [mā nassissatīti (sī. pī.), vinassissatīti (syā. kaṃ.)]. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabba’’nti. Dvādasamaṃ.

12. Dutiyasiṅgālasuttavaṇṇanā

234. Dvādasame kataññutāti katajānanaṃ. Kataveditāti katavisesajānanaṃ. Tatridaṃ jarasiṅgālassa kataññutāya vatthu – satta kira bhātaro khettaṃ kasanti. Tesaṃ sabbakaniṭṭho khettapariyante ṭhatvā gāvo rakkhati. Athekaṃ jarasiṅgālaṃ ajagaro gaṇhi, so taṃ disvā yaṭṭhiyā pothetvā vissajjāpesi. Ajagaro siṅgālaṃ vissajjetvā tameva gaṇhi. Siṅgālo cintesi – ‘‘mayhaṃ iminā jīvitaṃ dinnaṃ, ahampi imassa dassāmī’’ti yāgughaṭassa upari ṭhapitaṃ vāsiṃ mukhena ḍaṃsitvā tassa santikaṃ agamāsi. Itare bhātaro disvā, ‘‘siṅgālo vāsiṃ haratī’’ti anubandhiṃsu. So tehi diṭṭhabhāvaṃ ñatvā vāsiṃ tassa santike chaḍḍetvā palāyi. Itare āgantvā kaniṭṭhaṃ ajagarena gahitaṃ disvā vāsiyā ajagaraṃ chinditvā taṃ gahetvā agamaṃsu. Evaṃ jarasiṅgāle siyā yā kāci kataññutā kataveditā. Sakyaputtiyapaṭiññeti idampi devadattassa ācārameva sandhāya vuttanti. Dvādasamaṃ.

Ý kiến bạn đọc