- 13913 S. Post Oak Rd, Houston TX 77045
- Phone: (281) 838-0535. Fax: (832) 550-2889
- Trụ Trì: Tỳ khưu Giác Đẳng
- Email: phapluan@gmail.com
- Web: chuaphapluan.com
- Xem bản đồ
Lớp Phật Pháp Buddhadhamma
Môn học: PĀLI PHÁP CÚ
Bài học thứ hai 17.3.2025
XXVI
Phẩm Bà La Môn
(Brāhmaṇavagga)
XXVI. Phẩm Bà La Môn_Kệ số 29 (dhp 411)
Chánh văn:
29. Yass’ ālayā na vijjanti
aññāya akathaṅkathī
amatogadhaṃ anuppattaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.
(dhp 411)
Thích văn:
Yass’ ālayā [hợp âm yassa ālayā]
Ālayā [chủ cách, số nhiều, nam tính, danh từ ālaya] các sự tham muốn, các sự quyến luyến.
Aññāya [bất biến quá khứ phân từ “ā +
Akathaṅkathī [chủ cách, số ít, nam tính, tính, từ hợp thể akathaṅkathī (a + kathaṃ + kathā + ī)] không còn nghi hoặc, không có hoài nghi.
Amatogadhaṃ [đối cách, số ít, nam tính, danh từ hợp thể amatogatha (amata + ogadha)] sự thể nhập bất tử, cứu cánh bất tử.
Anuppattaṃ [đối cách, số ít, nam tính, tính từ anuppatta (quá khứ phân từ của động từ anupāpuṇāti)] đạt đến, đắc được.
Việt văn:
21. Ai không có luyến tham
hiểu biết, không nghi hoặc
đạt cứu cánh bất tử
ta gọi ấy phạm chí.
(pc 411)
Chuyển văn:
29. Yassa ālayā na vijjanti aññāya akathaṅkathī amatogathaṃ anuppattaṃ taṃ ahaṃ brāhmaṇaṃ brūmi.
Đối với người nào không còn quyến luyến, sau khi thông hiểu không còn hoài nghi, đã đạt đến cứu cánh bất tử (níp bàn) người ấy, ta gọi là bà la môn.
Duyên sự:
Bài kệ này, đức Phật thuyết ở Sāvatthi, khi Ngài trú tại chùa Jetavana, vì chuyện trưởng lão Mahāmoggallāna.
Câu chuyện của trưởng lão Mahāmoggallāna cũng có tình tiết giống như câu chuyện của trưởng lão Sāriputta ở trước, kệ pháp cú 410.
Trưởng lão Mahāmoggallāna với đoàn tỳ kheo tùy tùng đi đến một ngôi chùa vùng quê, an cư mùa mưa. Dân chúng trong vùng hứa cúng dường chư tăng sau mùa an cư.
Ngày mãn hạ, trưởng lão Mahāmoggallāna dẫn đoàn tùy tùng về Sāvatthi đảnh lễ bậc Đạo sư. Trước khi khởi hành, trưởng lão nói với các tỳ kheo địa phương khi dân chúng đem đến lễ phẩm dâng cho Ngài và Tăng đoàn tùy tùng thì hãy nhậm dùm và chuyển gởi đến Sāvatthi, hoặc giữ đó rồi nhắn tin cho biết.
Các tỳ kheo phàm phu khi hội họp đã bêu rếu trưởng lão: “Tưởng gì, Trưởng lão Mahāmoggallāna cũng ham luyến lợi lộc cúng dường”.
Đức Phật nghe được lời bêu rếu ấy, Ngài nói với chúng tỳ kheo rằng: “Không có sự tham luyến lợi lộc nơi con trai ta, Moggallāna, vị ấy dặn dò như thế vì để không làm mất công đức của thí chủ, vì để không làm mất lợi lộc hợp pháp cho các tỳ kheo khác thôi”.
Nói xong, đức Thế Tôn thuyết lên bài kệ này: Yass’ ālayā na vijjanti…v.v…tamahaṃ brūmi brāhmaṇan’ ti.
Dứt pháp thoại có nhiều vị tỳ kheo chứng đắc thánh quả.
Lý giải:
Trong bài kệ này, Ālayā (sự tham luyến) cũng đồng nghĩa với taṇhā (ái).
Aññāya akathaṅkathī (hiểu biết, không nghi hoặc), tức là khi đã hiểu rõ tường tận về ân đức Phật, ân đức Pháp, ân đức Tăng, hiểu rõ tam học, hiểu rõ về quá khứ, vị lai, hiện tại, hiểu rõ duyên sinh, vị A la hán không còn hoài nghi (Nibbicikiccho) với tám sự hoài nghi ấy.
Amatogadhaṃ anuppattaṃ (đạt đến cứu cánh bất tử), tức là chứng ngộ níp bàn, một trạng thái bất tử, không còn sanh không còn diệt.
Vị A la hán không còn luyến tham, không còn hoài nghi, thể nhập níp bàn. Vị ấy, đức Phật gọi là bậc Phạm chí hay vị Bà la môn.
Tỳ kheo Tuệ Siêu biên soạn.