- 13913 S. Post Oak Rd, Houston TX 77045
- Phone: (281) 838-0535. Fax: (832) 550-2889
- Trụ Trì: Tỳ khưu Giác Đẳng
- Email: phapluan@gmail.com
- Web: chuaphapluan.com
- Xem bản đồ
Lớp Phật Pháp Buddhadhamma
Môn học: PĀLI PHÁP CÚ
Bài học thứ năm 13.3.2025
XXVI
Phẩm Bà La Môn
(Brāhmaṇavagga)
XXVI. Phẩm Bà La Môn_Kệ số 28 (dhp 410)
Chánh văn:
28. Āsā yassa na vijjanti
asmiṃ loke paramhi ca
nirāsāsaṃ visaṃyuttaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.
(dhp 410)
Thích văn:
Āsā [chủ cách, số nhiều, nữ tính, danh từ āsā] những hy vọng, những sự mong mỏi, các hy cầu.
Yassa [chỉ định cách, số ít, nam tính, quan hệ đại từ ya] cho ai, đối với người nào.
Na [bất biến từ phủ định] không, chẳng.
Vijjanti [động từ hiện tại, tiến hành cách, parassapada, ngôi III, số nhiều, “
Asmiṃ [định sở cách, số ít, nam tính, đại từ ima] trong cái này.
Loke [định sở cách, số ít, nam tính, danh từ loka] trong đời, trong thế gian.
Paramhi [định sở cách, số ít, nam tính, đại từ para] trong đời khác, ở đời sau.
Nirāsāsaṃ [đối cách, số ít, nam tính, tính từ hợp thể nirāsāsa (nira + āsāsa)] không hy vọng, không cầu mong, không hy cầu.
Visaṃyuttaṃ [đối cách, số ít, nam tính, tính từ visaṃyutta (vi + saṃyutta quá khứ phân từ của động từ saṃyuñjati)] không liên quan, không ràng buộc, ly ách phược.
Việt văn:
28. Ai không có hy cầu
đời này và đời sau
không hy cầu, ly ách
ta gọi ấy Phạm chí.
(pc 410)
Chuyển văn:
28. Yassa asmiṃ loke paramhi ca āsā na vijjanti nirāsāsaṃ visaṃyuttaṃ taṃ ahaṃ brāhmaṇaṃ brūmi.
Đối với người nào không còn khát vọng trong đời này và đời sau, không hy cầu, không ràng buộc, người ấy ta gọi là bậc Phạm chí.
Duyên sự:
Bài kệ này, đức Phật thuyết khi Ngài trú ở chùa Jetavana, tại kinh thành Sāvatthi, vì chuyện trưởng lão Sāriputta.
Trưởng lão Sāriputta có 500 vị tỳ kheo tùy tùng đi đến một ngôi chùa làng quê và an cư mùa mưa tại đấy. Dân chúng nhìn thấy trưởng lão đã phát tâm hứa cúng nhiều phẩm vật an cư mùa mưa.
Lúc mãn hạ, làm lễ tự tứ xong mà mọi phẩm vật nhập hạ vẫn chưa đến thời dâng cúng. Trưởng lão cùng đoàn tùy tùng phải về bái kiến bậc Đạo sư. Lúc ra đi, trưởng lão dặn dò các vị tỳ kheo trong chùa: “Khi phẩm vật nhập hạ dân chúng mang đến hãy nhận dùm và gửi đi cho các tỳ khưu trẻ và các sadi, hoặc đưa tin cho biết”. Khi Ngài đã dặn dò như vậy, bèn khởi hành về bái kiến bậc Đạo sư.
Các vị tỳ kheo đã khởi lên lời dị nghị: “Hôm nay mới biết trưởng lão Sāriputta vẫn có tham luyến, bởi vì các phẩm vật an cư mà dân chúng cúng dường cho mình và các đệ tử, trưởng lão căn dặn, hãy gởi đi dùm hoặc giữ dùm rồi báo tin”.
Đức Phật nghe được lời bàn tán, Ngài phán: “Này các tỳ kheo, con trai ta không có tham luyến, Sāriputta nói như vậy chỉ vì không để dân chúng mất phước và không để những tỳ kheo trẻ và những sa di mất lợi lộc hợp pháp”. Nói xong, đức Phật thuyết lên bài kệ này: Āsā yassa na vijjanti…v.v…tamahaṃ brūmi brāhmaṇan’ ti.
Dứt pháp thoại có nhiều vị đã đắc thánh quả.
Lý giải:
Bài kệ này, đức Phật thuyết cũng theo bối cảnh, trưởng lão Sāriputta cùng đoàn tùy tùng đến nhập hạ tại một ngôi chùa vùng quê, các cư sĩ nơi ấy hứa cúng lễ phẩm an cư cho trưởng lão và tăng đoàn tùy tùng. Đến khi mãn hạ làm lễ tự tứ xong, trưởng lão và đoàn tùy tùng rời đi để về đảnh lễ đức Phật, khi đó dân chúng chưa kịp cúng dường lễ phẩm cho trưởng lão và tăng đoàn tùy tùng. Trước khi rời đi Ngài dặn dò các vị tỳ kheo ở chùa nơi nhập hạ: Nếu dân chúng có cúng lễ phẩm hãy nhậm dùm và gửi đi, hoặc để đó rồi báo tin. Các tỳ kheo ấy hiểu lầm trưởng lão còn tâm tham cầu lợi lộc. Nên đức Phật đã thuyết bài kệ này.
“Āsā”_Hy cầu, sự mong mỏi lợi lộc, cầu được lợi lộc. Chú giải giải thích chữ Āsā đồng nghĩa với taṇhā (ái). Trong bài kệ, đức Phật nói thêm: Asmiṃ loke āsā, hy cầu đời này, tức là dục ái (kāmataṇhā); Paramhi loke āsā, hy cầu đời sau, tức là hữu ái (bhavataṇhā); hoặc phủ nhận đời sau, gọi là phi hữu ái (vibhavataṇhā). Sự tham cầu ấy không có đối với vị A la hán.
Vị A la hán là người không hy cầu (nirāsāsaṃ) tức là ly ái (nittaṇhaṃ).
Vị A la hán là người ly ách (visaṃyuttaṃ) tức là thoát khỏi bốn ách phược (catuhi yogehi visaṃyuttaṃ), hay thoát khỏi mọi phiền não (sabbakilesehi visaṃyuttaṃ).
Người ấy, đức Phật gọi là Bà la môn Lậu tận (Khīnāsavabrāhmaṇaṃ)./.
Tỳ kheo Tuệ Siêu biên soạn.