Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ _ Niết Bàn Mới Là Cứu Cánh _ Kinh Candimasa (Candimasasuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ _ Niết Bàn Mới Là Cứu Cánh _ Kinh Candimasa (Candimasasuttaṃ)

Wednesday, 20/10/2021, 14:48 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 20.10.2021


Niết Bàn Mới Là Cứu Cánh

Kinh Candimasa (Candimasasuttaṃ)

(CHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM CẤP CÔ ĐỘC) (S.i,51)

Phiền não có thô có tế. Các cảnh giới của thiền chứng dù là sắc giới hay vô sắc giới có là trạng thái an tịnh của tâm định nhưng đằng sau đó vẫn còn những kiết sử tế nhị. Đức Phật dạy một người thật sự an ổn khi đạt đến bờ kia tức niết bàn chấm dứt tất cả phiền não hệ luỵ. Đôi khi cái tốt hơn cái hiện có chưa đủ mà phải hoàn toàn tốt mới gọi là chí thiện.

Niết Bàn Mới Là Cứu Cánh _ Kinh Candimasa (Candimasasuttaṃ)
Bản dịch của HT Thích Minh Châu Bản hiệu đính

Sāvatthinidānaṃ.

Tại Sāvatthī.

Atha kho candimaso [candimāso (ka.)] devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhito kho candimaso devaputto bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi –

Rồi Thiên tử Candimasa, sau khi đêm đã gần mãn,với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Candimasa nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

‘‘Te hi sotthiṃ gamissanti,

kacche vāmakase magā;

Jhānāni upasampajja,

ekodi nipakā satā’’ti.

(Thiên tử)

Họ sẽ đi an toàn,

Như thú, vùng không muỗi,

Sau khi chứng Thiền định,

Nhứt tâm, niệm tỉnh giác,

(Thiên tử)

Họ đến chốn bình an,

Như nai về lũng nội,

Thể nhập vào thiền na,

Định, sáng suốt, tỉnh giác.

‘‘Te hi pāraṃ gamissanti,

chetvā jālaṃva ambujo;

Jhānāni upasampajja,

appamattā raṇañjahā’’ti.

(Thế Tôn)

Họ sẽ đi bờ kia,

Như cá, phá rách lưới,

Sau khi chứng Thiền định,

Tự chế, vượt lỗi lầm.

(Thế Tôn)

Họ đạt đến giác ngạn,

Như cá phá tung lưới,

Thể nhập vào thiền na,

Chu toàn, không hệ luỵ.

Te hi sotthiṃ gamissanti Họ quả thật sẽ tới chốn bình an
kacche vāmakase magā

Như những con nai chốn lũng nội không muỗi mòng

Jhānāni upasampajja Sau khi thể nhập các thiền chứng
ekodi nipakā satā ’’ti nhất tâm, tuệ và niệm
Te hi pāraṃ gamissanti Họ quả thật sẽ tới bờ kia
chetvā jālaṃva ambujo Như cá phá tung lưới
Jhānāni upasampajja Sau khi thể nhập các thiền chứng
appamattā raṇañjahā ’’ti Chu toàn, không hệ luỵ

Theo Sớ giải chữ kacca ở đây có thể chỉ cho hẻm núi (pabbatakaccha) hay khúc sông hẹp (nadīkaccha) chỉ cho lũng nội an bình (kacca vaya).

Cũng theo Sớ giải chữ raṇañjahā được hiểu là không có va chạm, không hệ luỵ, không phiền não (sa-ranọ ti sarajo sakileso, aranọ ti arajo Nikkileso).

Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu

Hiệu đính và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-

1. Candimasasuttaṃ [Mūla]

92. Sāvatthinidānaṃ. Atha kho candimaso [candimāso (ka.)] devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhito kho candimaso devaputto bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi –

‘‘Te hi sotthiṃ gamissanti, kacche vāmakase magā;

Jhānāni upasampajja, ekodi nipakā satā’’ti.

‘‘Te hi pāraṃ gamissanti, chetvā jālaṃva ambujo;

Jhānāni upasampajja, appamattā raṇañjahā’’ti.

1. Candimasasuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]

92. Dutiyavaggassa paṭhame kacchevāti kacche viya. Kaccheti pabbatakacchepi nadīkacchepi. Ekodi nipakāti ekaggacittā ceva paññānepakkena ca samannāgatā. Satāti satimanto. Idaṃ vuttaṃ hoti – ye jhānāni labhitvā ekodī nipakā satā viharanti, te amakase pabbatakacche vā nadīkacche vā magā viya sotthiṃ gamissantīti. Pāranti nibbānaṃ. Ambujoti maccho. Raṇañjahāti kilesañjahā. Yepi jhānāni labhitvā appamattā kilese jahanti, te suttajālaṃ bhinditvā macchā viya nibbānaṃ gamissantīti vuttaṃ hoti. Paṭhamaṃ.