TRỒNG CÂY, XÂY CẦU, ĐÀO GIẾNG ĐƯỢC PHƯỚC GÌ? _ Kinh Trồng Rừng (Vanaropasuttaṃ) _ CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM THIÊU CHÁY (S.i,33) _ Giáo trình TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA _ Bài học ngày 27.7.2021

TRỒNG CÂY, XÂY CẦU, ĐÀO GIẾNG ĐƯỢC PHƯỚC GÌ? _ Kinh Trồng Rừng (Vanaropasuttaṃ) _ CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM THIÊU CHÁY (S.i,33) _ Giáo trình TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA _ Bài học ngày 27.7.2021

Tuesday, 27/07/2021, 14:28 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Giáo trình TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 27.7.2021


TRỒNG CÂY, XÂY CẦU, ĐÀO GIẾNG ĐƯỢC PHƯỚC GÌ?

Kinh Trồng Rừng (Vanaropasuttaṃ)

CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM THIÊU CHÁY (S.i,33)

Đó là thời điểm 25 thế kỷ trước. Thời ấy trên địa cầu dân cư thưa thớt, rừng cây bạt ngàn. Chưa ai có khái niệm về môi trường sinh thái. Thế mà Đức Phật đã dạy trồng cây tạo bóng mát, kiến tạo cảnh trí già lam với cây cao bóng cả thích hợp cho những vị tu hành là những hạnh lành khiến công đức luôn tăng trường. Và Phật cũng dạy thêm là xây cầu, đào giếng, cho nước uống, cho nơi cư trú cũng là những thiện nghiệp khiến công đức luôn phát sanh. Điều nầy rất dễ hiểu vì những cống hiến đó mang lại muôn vàn lợi lạc cho bao người hưởng dụng không phải chỉ nhất thời mà có thể kéo dài nhiều thế hệ.

''Kesaṃ divā ca ratto ca, sadā puññaṃ pavaḍḍhati.

Dhammaṭṭhā sīlasampannā, ke janā saggagāminoti..

[Vị Thiên]

''Những ai ngày lẫn đêm,

Công đức luôn tăng trưởng,

Trú pháp, cụ túc giới,

Kẻ nào sanh thiên giới?

Bản hiệu đính:

Người trú pháp, đủ giới

Được sanh lên cõi trời

Ai phước luôn tăng trưởng

Bất luận ngày hay đêm?

''Ārāmaropā vanaropā, ye janā setukārakā.

Papañca udapānañca, ye dadanti upassayaṃ..

''Tesaṃ divā ca ratto ca, sadā puññaṃ pavaḍḍhati.

Dhammaṭṭhā sīlasampannā, te janā saggagāminoti..

[Đức Phật]

''Ai trồng vườn, trồng rừng,

Ai dựng xây cầu cống,

Ðào giếng, cho nước uống,

Những ai cho nhà cửa,

''Những vị ấy ngày đêm,

Công đức luôn tăng trưởng,

Trú pháp, cụ túc giới,

Những vị ấy sanh Thiên.

Bản hiệu đính:

''Người trú pháp, đủ giới ,

Được sanh lên cõi trời,

(Nếu) có trồng cây tạo vườn,

Cảnh thiền lâm tu viện.

''Ai xây cầu, cho nhà

Ai đào giếng, cho nước

Phước báu của người ấy,

Luôn tăng trưởng đêm ngày.

Ārāmaropā: trồng cây để tạo cảnh già lam cho các bậc tu hành.

Ropati: trồng cây.

Ārāma: tu viện, già lam, nơi có “cội cây, nhà trống thanh tịnh.

Vana: Vườn, công viên,

Papa: phước xá (nơi có nước uống)

Upassaya: nhà ở

sadā puññaṃ pavaḍḍhati: phước báu luôn tăng trưởng

Theo Sớ giải thì bởi vì những hạnh lành như trồng cây, xây cầu, đào giếng còn người hưởng dụng (dù nhân loại hay chư thiên) thì người đã phát thiện tâm kiến tạo luôn được phước lành.

Một người an trú trong pháp và có giới hạnh là tu tập cho bản thân. Những phục vụ cho tha nhân bằng công của sẽ khiến phước báu luôn tăng trưởng vì lợi ích lâu dài cho cuộc đời.

Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu

Biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-

7. Vanaropasuttaṃ [Mūla]

47. ''Kesaṃ divā ca ratto ca, sadā puññaṃ pavaḍḍhati.

Dhammaṭṭhā sīlasampannā, ke janā saggagāminoti..

''Ārāmaropā vanaropā, ye janā setukārakā.

Papañca udapānañca, ye dadanti upassayaṃ..

''Tesaṃ divā ca ratto ca, sadā puññaṃ pavaḍḍhati.

Dhammaṭṭhā sīlasampannā, te janā saggagāminoti..

7. Vanaropasuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]

47. Sattame dhammaṭṭhā sīlasampannāti ke dhammaṭṭhā, ke sīlasampannāti pucchati. Bhagavā imaṃ pañhaṃ thāvaravatthunā dīpento ārāmaropātiādimāha. Tattha ārāmaropāti pupphārāmaphalārāmaropakā. Vanaropāti sayaṃjāte aropimavane sīmaṃ parikkhipitvā cetiyabodhicaṅkamanamaṇḍapakuṭileṇarattiṭṭhānadivāṭṭhānānaṃ kārakā chāyūpage rukkhe ropetvā dadamānāpi vanaropāyeva nāma. Setukārakāti visame setuṃ karonti, udake nāvaṃ paṭiyādenti. Papanti pānīyadānasālaṃ. Udapānanti yaṃkiñci pokkharaṇītaḷākādiṃ. Upassayanti vāsāgāraṃ. ‘‘Upāsaya’’ntipi pāṭho.

Sadā puññaṃ pavaḍḍhatīti na akusalavitakkaṃ vā vitakkentassa niddāyantassa vā pavaḍḍhati. Yadā yadā pana anussarati, tadā tadā tassa vaḍḍhati. Imamatthaṃ sandhāya ‘‘sadā puññaṃ pavaḍḍhatī’’ti vuttaṃ. Dhammaṭṭhā sīlasampannāti tasmiṃ dhamme ṭhitattā tenapi sīlena sampannattā dhammaṭṭhā sīlasampannā. Atha vā evarūpāni puññāni karontānaṃ dasa kusalā dhammā pūrenti, tesu ṭhitattā dhammaṭṭhā. Teneva ca sīlena sampannattā sīlasampannāti. Sattamaṃ.