THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI THÁNH PHÁP _ Kinh Con Gái Của Pajjunna (Paṭhamapajjunnadhītusuttaṃ) _ CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM QUẦN TIÊN (S.i,29) _ Giáo trình TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA _ Bài học ngày 2.7.2021

THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI THÁNH PHÁP _ Kinh Con Gái Của Pajjunna (Paṭhamapajjunnadhītusuttaṃ) _ CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM QUẦN TIÊN (S.i,29) _ Giáo trình TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA _ Bài học ngày 2.7.2021

Friday, 02/07/2021, 18:28 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Giáo trình TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 2.7.2021


THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI THÁNH PHÁP

Kinh Con Gái Của Pajjunna

(Paṭhamapajjunnadhītusuttaṃ)

CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM QUẦN TIÊN (S.i,29)

Không phải nói tới Pháp cao quý ai cũng có thái độ như nhau. Cũng như đối với cảnh thiên nhiên tươi đẹp sơn thuỷ hữu tình cũng có kẻ ưa người ghét. Tuy nhiên thái độ đối với chánh pháp không dừng ở chỉ là thái độ, mà chính từ đó, tạo nên những hệ quả vui khổ lâu dài.

Điều lạ của bài kinh nầy, cũng như bài tiếp theo, là chỉ có một thiên nhân chứ không phải nhiều vị trời bày tỏ lại được xếp vào Phẩm Quần Tiên.

Evaṃ me sutaṃ :

1) Như vầy tôi nghe.

ekaṃ samayaṃ Bhagavā vesāliyaṃ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṃ.

Một thời Thế Tôn ở Vesālī, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.

Atha kho kokanadā pajjunnassa dhītā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ mahāvanaṃ obhāsetvā yena Bhagavā tenupasaṅkami upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi.

2) Rồi Kokanadā, con gái của Pajjunna, sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù thắng chiếu sáng toàn vùng Ðại Lâm, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā kokanadā pajjunnassa dhītā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi :

3) Ðứng một bên, Thiên nữ Kokanadà, con gái của Pajjunna, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

''Vesāliyaṃ vane viharantaṃ, aggaṃ sattassa sambuddhaṃ.

Kokanadāhamasmi abhivande, kokanadā pajjunnassa dhītā..

''Sutameva pure āsi, dhammo cakkhumatānubuddho.

Sāhaṃ dāni sakkhi jānāmi, munino desayato sugatassa..

''Ye keci ariyaṃ dhammaṃ, vigarahantā caranti dummedhā.

Upenti roruvaṃ ghoraṃ, cirarattaṃ dukkhaṃ anubhavanti..

''Ye ca kho ariye dhamme, khantiyā upasamena upetā.

Pahāya mānusaṃ dehaṃ, devakāya paripūressantīti..

 

''Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác,

Thượng thủ các chúng sanh,

Nay an trú Ðại Lâm,

Tại thành Vesāli,

Hãy để con đảnh lễ,

Con gái Pajjunna,

Tên Kokanadā.

''Từ trước con chỉ nghe,

Bậc chứng ngộ Chánh Giác.

Bậc vô thượng Pháp Nhãn,

Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Ngày nay con có thể,

Biết được Chánh pháp ấy,

Do Thiện Thệ thuyết giảng,

''Bậc Mâu-ni Chánh Giác.

Những ai kém trí tuệ,

Khinh bác chống Thánh pháp,

Sẽ rơi vào địa ngục,

Mệnh danh Roruva,

Trải thời gian lâu dài,

Thọ lãnh nhiều thống khổ.

''Những ai đối Thánh pháp,

Kham nhẫn, tâm tịch tịnh,

Từ bỏ thân làm người,

Viên mãn thân chư Thiên.

 

Bản hiệu đính:

 

Con xin đảnh lễ Phật

Bậc Tối Tôn trên đời

Ở rừng Vesāli

Con là Kokanadā

Con gái Pajjunna.

 

Trước đây con nghe pháp

Đấng Pháp Nhãn giác ngộ

Giờ con tự thân chứng

Chánh Pháp được thuyết giảng

Bởi Mâu Ni Thiện Thệ.

 

Những ngưòi thiếu hiểu biết

Bài xích Pháp cao quý

Rơi vào Rovuva

Địa ngục khổ đăng đẳng.

 

Ai đối với Thánh Pháp

Chấp nhận và an tịnh

Sau khi bỏ thân người

Làm thiên nhân toàn hảo.

sutameva pure āsi …sāhaṃ dāni sakkhi jānāmi: trước kia chỉ học … bây giờ thì hiểu biết trực tiếp.

ariya: cao quý, thánh đức

vigarahantā: mạ lỵ, huỷ báng

dummedhā: kẻ thiếu trí

khantiyā upasamena upetā: thành tựu sự chấp nhận và an tịnh

Kokanadā là con gái của vị thiên Pajjunna. Pajjunna là “thần mưa” làm việc trướng của Tứ Đại Thiên Vương

Roruva là tên của điạ ngục trong nghĩa đen có nghĩa là kêu khóc lập đi lập lại (punappunaṃ ravaṃ ravanti). Địa ngục Roruva có hai nơi một là Địa Ngục Khói (dhūmaroruva), hai là Địa Ngục Lửa (jālaroruva). Địa Ngục Lửa (jālaroruva) chính là Địa Ngục Vô Gián hay Địa Ngục A Tỳ (avīci) nơi khổ hình không bao giờ ngừng nghỉ.

Theo Sớ giải thì chữ khantiyā ở đây có nghĩa là tuỳ thuận, chấp nhận (ñānạ khantiya) chứ không phải mang ý nghĩa chịu đựng, nhẫn nại

Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu

Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-

9. Paṭhamapajjunnadhītusuttaṃ [Mūla]

39. Evaṃ  me sutaṃ : ekaṃ samayaṃ Bhagavā vesāliyaṃ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṃ. Atha kho kokanadā pajjunnassa dhītā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ mahāvanaṃ obhāsetvā yena Bhagavā tenupasaṅkami upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā kokanadā pajjunnassa dhītā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi :

''Vesāliyaṃ  vane viharantaṃ, aggaṃ sattassa sambuddhaṃ.

Kokanadāhamasmi  abhivande, kokanadā pajjunnassa dhītā..

''Sutameva pure āsi, dhammo cakkhumatānubuddho.

Sāhaṃ dāni sakkhi jānāmi, munino desayato sugatassa..

''Ye keci ariyaṃ dhammaṃ, vigarahantā caranti dummedhā.

Upenti roruvaṃ ghoraṃ, cirarattaṃ dukkhaṃ anubhavanti..

''Ye ca kho ariye dhamme, khantiyā upasamena upetā.

Pahāya mānusaṃ dehaṃ, devakāya paripūressantīti..

9. Paṭhamapajjunnadhītusuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]

39. Navame pajjunnassa dhītāti pajjunnassa nāma vassavalāhakadevarañño cātumahārājikassa dhītā. Abhivandeti bhagavā tumhākaṃ pāde vandāmi. Cakkhumatāti pañcahi cakkhūhi cakkhumantena tathāgatena. Dhammo anubuddhoti, ‘‘idaṃ mayā pubbe paresaṃ santike kevalaṃ sutaṃyeva āsī’’ti vadati. Sāhaṃ dānīti, sā ahaṃ idāni. Sakkhi jānāmīti, paṭivedhavasena paccakkhameva jānāmi. Vigarahantāti, ‘‘hīnakkharapadabyañjano’’ti vā ‘‘aniyyāniko’’ti vā evaṃ garahantā. Roruvanti, dve roruvā – dhūmaroruvo ca jālaroruvo ca. Tattha dhūmaroruvo visuṃ hoti, jālaroruvoti pana avīcimahānirayassevetaṃ nāmaṃ. Tattha hi sattā aggimhi jalante jalante punappunaṃ ravaṃ ravanti, tasmā so ‘‘roruvo’’ti vuccati. Ghoranti dāruṇaṃ. Khantiyā upasamena upetāti ruccitvā khamāpetvā gahaṇakhantiyā ca rāgādiupasamena ca upetāti. Navamaṃ.