TÂM KHÔNG _ Kinh Am Tranh (Kuṭikāsuttaṃ) _ CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM VƯỜN HOAN HỶ (S.i,8) _ Giáo trình TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA _ Bài học ngày 14.5.2021

TÂM KHÔNG _ Kinh Am Tranh (Kuṭikāsuttaṃ) _ CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM VƯỜN HOAN HỶ (S.i,8) _ Giáo trình TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA _ Bài học ngày 14.5.2021

Friday, 14/05/2021, 17:48 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Giáo trình TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 14.5.2021

TÂM KHÔNG

Kinh Am Tranh (Kuṭikāsuttaṃ)

CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM VƯỜN HOAN HỶ (S.i,8)

Chúng sanh sống thường tin hạnh phúc nằm ở những gì “là ta, là của ta, là tự ngã của ta”. Thật khó để cảm nhận hạnh phúc của cõi không theo cả hai nghĩa đen và nghĩa bóng. Hai chữ đơn giản “có được” khiến người ta thấy ấm áp, vui sướng. Chỉ có những bậc hoàn toàn giác ngộ giải thoát mới thật sự hiểu và sống với giác trị của “diệt khổ - nirodha”. Đó là hành trình của chính Đức Phật và tinh tuý giáo pháp mà Ngài để lại cho đời.

(Vị Thiên)

''Kacci te kuṭikā natthi,

Ngài không có am tranh,

kacci natthi kulāvakā.

Ngài không có tổ ấm,

Kacci santānakā natthi,

Ngài không có dây giăng,

kacci muttosi bandhanāti..

Ngài thoát khỏi hệ phược.

Bản hiệu đính:

Ngài có chăng tịnh am?

Ngài có chăng tổ ấm?

Ngài có chăng giây lan?

Ngài có thoát buộc ràng?

(Thế Tôn):

''Taggha me kuṭikā natthi,

Ta không có am tranh,

taggha natthi kulāvakā.

Ta không có tổ ấm,

Taggha santānakā natthi,

Ta không có dây giăng,

taggha muttomhi bandhanāti..

Ta thoát khỏi hệ phược.

Bản hiệu đính:

Ta không có tịnh am,

Ta không có tổ ấm.

Ta không có giây lan,

Ta không có buộc ràn.

(Vị Thiên):

''Kintāhaṃ kuṭikaṃ brūmi,

Con nói am là gì?

kiṃ te brūmi kulāvakaṃ.

Nói tổ ấm là gì?

Kiṃ te santānakaṃ brūmi,

Nói dây giăng là gì?

kintāhaṃ brūmi bandhananti..

Nói hệ phược là gì?

Bản hiệu đính:

Con nói am là chi?

Nói tổ ấm là gì?

Giây lan hiểu là sao?

Trói buộc nghĩa thế nào?

(Thế Tôn):

''Mātaraṃ kuṭikaṃ brūsi,

Ông nói am là mẹ,

bhariyaṃ brūsi kulāvakaṃ.

Nói tổ ấm là vợ,

Putte santānake brūsi,

Nói dây giăng là con,

taṇhaṃ me brūsi bandhananti..

Nói hệ phược là ái.

Bản hiệu đính:

Nói mẹ là tịnh am,

Nói vợ là tổ ấm.

Nói con là giây lan,

Nói ái là cột trói.

(Vị Thiên):

''Sāhu te kuṭikā natthi,

Lành thay, Ngài không am!

sāhu natthi kulāvakā.

Lành thay, không tổ ấm!

Sāhu santānakā natthi,

Lành thay, không dây giăng!

sāhu muttosi bandhanāti..

Lành thay, Ngài thoát phược!

Bản hiệu đính:

Lành thay Ngài không am,

Lành thay không tổ ấm.

Lành thay không dây nối,

Lành thay thoát buộc rang.

mātar: mẹ

kuṭikā: am thất

kulāvaka: tổ ấm

bhariyā: vợ

putta: con, con trai

santānake: rễ bàng, giây lan

taṇhā: khát ái

bandhana: trói cột, buộc ràng

sāhu: lành thay, thiện thay, tối đẹp thay (đồng nghĩa với sādhu)

Theo Sớ giải thì kuṭika – am thất - chỉ cho mẹ vì là thai bào tái sanh. Tổ ấm chỉ cho vợ vì như loài chim ban ngày đi thức ăn tối lại tìm về tổ ấm. Chữ santānakā có nghĩa là giây lan hay “giây mơ rễ má” chỉ cho sự nối dõi, thừa tiếp nên chỉ cho con. Ái là sự cột trói ràng buộc. Đức Phật trả lời như vậy vì Ngài đã đạt đến cảnh giới hoàn toàn giải thoát của nội tâm và cả trầm luân sanh tử.

Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu

Biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-

9. Kuṭikāsuttaṃ [Mūla]

19. ''Kacci te kuṭikā natthi, kacci natthi kulāvakā.

Kacci santānakā natthi, kacci muttosi bandhanāti..

''Taggha me kuṭikā natthi, taggha natthi kulāvakā.

Taggha santānakā natthi, taggha muttomhi bandhanāti..

''Kintāhaṃ kuṭikaṃ brūmi, kiṃ te brūmi kulāvakaṃ.

Kiṃ te santānakaṃ brūmi, kintāhaṃ brūmi bandhananti..

''Mātaraṃ kuṭikaṃ brūsi, bhariyaṃ brūsi kulāvakaṃ.

Putte santānake brūsi, taṇhaṃ me brūsi bandhananti..

''Sāhu te kuṭikā natthi, sāhu natthi kulāvakā.

Sāhu santānakā natthi, sāhu muttosi bandhanāti..

9. Kuṭikāsuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]

19. Navame kacci te kuṭikāti ayaṃ devatā dasa māse antovasanaṭṭhānaṭṭhena mātaraṃ kuṭikaṃ katvā, yathā sakuṇā divasaṃ gocarapasutā rattiṃ kulāvakaṃ allīyanti, evamevaṃ sattā tattha tattha gantvāpi mātugāmassa santikaṃ āgacchanti, ālayavasena bhariyaṃ kulāvakaṃ katvā. Kulapaveṇiṃ santānakaṭṭhena putte santānake katvā, taṇhaṃ bandhanaṃ katvā, gāthābandhanena ime pañhe samodhānetvā bhagavantaṃ pucchi, bhagavāpissā vissajjento tagghātiādimāha. Tattha tagghāti ekaṃsavacane nipāto. Natthīti pahāya pabbajitattā vaṭṭasmiṃ vā puna mātukucchivāsassa dārabharaṇassa puttanibbattiyā vā abhāvato natthi.

Devatā ‘‘mayā sannāhaṃ bandhitvā guḷhā pañhā pucchitā, ayañca samaṇo pucchitamatteyeva vissajjesi, jānaṃ nu kho me ajjhāsayaṃ kathesi, udāhu ajānaṃ yaṃ vā taṃ vā mukhāruḷhaṃ kathesī’’ti cintetvā puna kintāhantiādimāha. Tattha kintāhanti kiṃ te ahaṃ. Athassā bhagavā ācikkhanto mātarantiādimāha. Sāhu teti gāthāya anumoditvā sampahaṃsitvā bhagavantaṃ vanditvā gandhamālādīhi pūjetvā attano devaṭṭhānameva gatāti.

Kuṭikāsuttavaṇṇanā niṭṭhitā.