Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || VƯỢT THOÁT LƯỠNG BIÊN - Kinh Không Thuần Hoá, Không Phòng Hộ (Adantāguttasuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || VƯỢT THOÁT LƯỠNG BIÊN - Kinh Không Thuần Hoá, Không Phòng Hộ (Adantāguttasuttaṃ)

Thursday, 03/04/2025, 22:20 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 1.4.2025

VƯỢT THOÁT LƯỠNG BIÊN

Kinh Không Thuần Hoá, Không Phòng Hộ (Adantāguttasuttaṃ)

Chương XXXV. Tương Ưng Sáu Xứ – Phẩm Những Bộ Sáu (SN.35.94)

Thương và ghét đối với vừa lòng hay trái ý thường là hiện tượng “đối lập biên kiến” của tâm lý. Khi người ta ghét cái gì thì thường thích cái đối lập. Khi người ta thương cái gì thường là do ngược lại với điều mình ghét. Từ văn hoá, chính trị, tư tưởng và mọi lãnh vực của cuộc sống thường chi phối bởi hiện tượng “phản ứng lưỡng biên”. Đây là điều mà hành giả cần lưu tâm và huân tu khả năng buông xả. Những giác quan là tụ điểm tương tác giữa căn, cảnh, thức là những chỗ tạo ra phiền não, đối với cả hai cái vừa ý và bất như ý. Đây là địa bàn chiến thuật mà người tu không thể không quan tâm.

Kinh Văn

94. sāvatthinidānaṃ. “chayime, bhikkhave, phassāyatanā adantā aguttā arakkhitā asaṃvutā dukkhādhivāhā honti. katame cha? cakkhu, bhikkhave, phassāyatanaṃ adantaṃ aguttaṃ arakkhitaṃ asaṃvutaṃ dukkhādhivāhaṃ hoti ... pe ... jivhā, bhikkhave, phassāyatanaṃ adantaṃ aguttaṃ arakkhitaṃ asaṃvutaṃ dukkhādhivāhaṃ hoti ... pe ... mano, bhikkhave, phassāyatanaṃ adantaṃ aguttaṃ arakkhitaṃ asaṃvutaṃ dukkhādhivāhaṃ hoti. ime kho, bhikkhave, cha phassāyatanā adantā aguttā arakkhitā asaṃvutā dukkhādhivāhā honti”

 “chayime, bhikkhave, phassāyatanā sudantā suguttā surakkhitā susaṃvutā sukhādhivāhā honti. katame cha? cakkhu, bhikkhave, phassāyatanaṃ sudantaṃ suguttaṃ surakkhitaṃ susaṃvutaṃ sukhādhivāhaṃ hoti ... pe ... jivhā, bhikkhave, phassāyatanaṃ sudantaṃ suguttaṃ surakkhitaṃ susaṃvutaṃ sukhādhivāhaṃ hoti ... pe ... mano, bhikkhave, phassāyatanaṃ sudantaṃ suguttaṃ surakkhitaṃ susaṃvutaṃ sukhādhivāhaṃ hoti. ime kho, bhikkhave, cha phassāyatanā sudantā suguttā surakkhitā susaṃvutā sukhādhivāhā hontī”ti. idamavoca bhagavā ... pe ... etadavoca satthā —

“saḷeva {chaḷeva (ka.)} phassāyatanāni bhikkhavo,

 asaṃvuto yattha dukkhaṃ nigacchati.

tesañca ye saṃvaraṇaṃ avedisuṃ,

saddhādutiyā viharantānavassutā.

“disvāna rūpāni manoramāni,

 athopi disvāna amanoramāni.

manorame rāgapathaṃ vinodaye,

na cāppiyaṃ meti manaṃ padosaye.

“saddañca sutvā dubhayaṃ piyāppiyaṃ,

piyamhi sadde na samucchito siyā.

athoppiye dosagataṃ vinodaye,

na cāppiyaṃ meti manaṃ padosaye.

“gandhañca ghatvā surabhiṃ manoramaṃ,

athopi ghatvā asuciṃ akantiyaṃ.

akantiyasmiṃ paṭighaṃ vinodaye,

chandānunīto na ca kantiye siyā.

“rasañca bhotvāna asāditañca sāduṃ,

athopi bhotvāna asādumekadā.

sāduṃ rasaṃ nājjhosāya bhuñje,

virodhamāsādusu nopadaṃsaye.

“phassena phuṭṭho na sukhena majje {majjhe (syā. kaṃ. pī.)},

dukkhena phuṭṭhopi na sampavedhe.

phassadvayaṃ sukhadukkhe upekkhe,

anānuruddho aviruddha kenaci.

“papañcasaññā itarītarā narā,

papañcayantā upayanti saññino.

manomayaṃ gehasitañca sabbaṃ,

panujja nekkhammasitaṃ irīyati.

“evaṃ mano chassu yadā subhāvito,

phuṭṭhassa cittaṃ na vikampate kvaci.

te rāgadose abhibhuyya bhikkhavo,

bhavattha {bhavatha (sī. syā. kaṃ.)} jātimaraṇassa pāragā”ti. paṭhamaṃ.

Tại Sāvatthī. Đức Thế Tôn dạy:

“Này chư Tỳ Khưu, sáu căn là chỗ của xúc—nếu không được điều phục, không được hộ trì, không được bảo vệ, không được chế ngự—thì sẽ đem lại khổ đau. Thế nào là sáu?

Này chư Tỳ Khưu, con mắt là chỗ của xúc—nếu không được điều phục, không được hộ trì, không được bảo vệ, không được chế ngự—là nguyên nhân đem lại khổ đau. Tai là chỗ của xúc… Ý là chỗ của xúc… nếu không được điều phục… là nguyên nhân đem lại khổ đau. Sáu căn này—nếu không được điều phục, không được hộ trì, không được bảo vệ, không được chế ngự—là nguyên nhân đem lại khổ đau.

Này chư Tỳ Khưu, sáu căn là chỗ của xúc—nếu được điều phục tốt, được hộ trì tốt, được bảo vệ tốt, được chế ngự tốt—thì sẽ đem lại an lạc. Thế nào là sáu?

Con mắt là chỗ của xúc—nếu được điều phục tốt, được hộ trì tốt, được bảo vệ tốt, được chế ngự tốt—là nguyên nhân đem lại hạnh phúc. Tai là chỗ của xúc… Ý là chỗ của xúc… nếu được điều phục tốt… là nguyên nhân đem lại hạnh phúc. Sáu căn này—nếu được điều phục, hộ trì, bảo vệ và chế ngự tốt—là nguyên nhân đem lại hạnh phúc.”

Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói, Ngài lại dạy thêm bài kệ sau:

1.
Sáu căn là xúc xứ,
Không chế ngự, khổ đến,
Với tín là bạn thiết,
Biết tự chế, tâm an.

2.
Thấy sắc dù khả ái
Hoặc sắc không vừa lòng
Chớ để tâm ô nhiễm:
“Đó làm nghịch ý ta”.

3.
Nghe âm thanh êm dịu,
Hay chói gắt, khó nghe.
Chớ để tâm ô nhiễm:
“Đó làm nghịch ý ta”.

4.
Ngửi hương thơm quyến rũ,
Hay hôi thối, tanh nồng.
Chớ để tâm ô nhiễm:
“Đó làm nghịch ý ta”.

5.
Nếm vị ngon, ngọt ngào,
Hay vị đắng trên đầu.
Chớ để tâm ô nhiễm:
“Đó làm nghịch ý ta”.

6.
Xúc chạm nơi thân thể,
Dễ chịu hoặc đớn đau.
Chớ để tâm ô nhiễm:
“Đó làm nghịch ý ta”.

7.
Phàm phu hay phóng dật
Miên man theo vọng tưởng
Ai từ bỏ thế tục,
Tâm buông xả, tỉnh thức.

8.
Khi tâm được tu tập
Nơi sáu căn trọn vẹn,
Bỏ cả hai ghét, thương
Xúc cảnh không dao động,
Vượt qua bờ bên kia
Đoạn tận cuộc tử sinh.

Chú Thích

Tựa đề kinh này theo bản Tích Lan là Cha phassāyatana, nghĩa là “Kinh Sáu Xúc Xứ”. Trong bản Ee (European edition – bản Âu), kinh này và kinh tiếp theo được đặt tên là Saṅgayha, nghĩa là “Bao gồm”, tức là có bao gồm cả phần kệ tụng.

Sớ Giải chú thích chữ dukkhādhivāha là “nguyên nhân mang đến khổ đau cực độ” (ādhi-dukkha-vāhanaka), được phân loại như địa ngục, v.v...

Sớ Giải chú thích chữ Sukhādhivāha là “nguyên nhân mang lại hỷ lạc cao thượng”, được phân loại như thiền định (jhana), đạo (magga) và quả (phala).

Chữ papañca có nghĩa là những ý nghĩ khuếch tán, ở đây dịch là vọng tưởng. HT Thích Minh Châu thường dịch là “hý luận”. Câu papañcasaññā itaritara narā, được Sớ giải giảng như sau: “Phàm phu trở thành ‘người có nhận thức khuếch tán’ do ‘tưởng điên đảo’ hay nhận thức với phiền não (kilesasaññā).”

Về cách mà tâm và trí bị ảnh hưởng bởi vọng tưởng (papañca)” xem Kinh Trung Bộ (MN) I 111,35–112,13.

Theo các Sớ giải, papañca (vọng tưởng) phát sinh từ ái chấp (taṇhā), mạn chấp (māna) và kiến chấp (diṭṭhi) – là những căn nguyên gây ra sự méo mó và ám ảnh của tâm thức.

“Vọng tưởng” (papañca) có thể được hiểu là sự nhận thức sai lạc về vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh, nhưng lại tưởng lầm là thường hằng, vui sướng, có ngã và đẹp đẽ.

Xem thêm phần luận giải về saññā-vipallāsa trong Tăng Chi Bộ I, 52 (AN I 52) – “Sự đảo điên của nhận thức” gây ra bởi phiền não phóng dật.

"Tâm tạo" trong bản dịch tương ứng với từ manomaya – một tính từ có nghĩa là “tạo bởi tâm” (thuộc tánh hiện hành), tuy danh từ được bổ nghĩa không được nêu rõ. Sớ giải giảng phần này như sau: “Sau khi đoạn trừ mọi suy tầm do tâm tạo (manomaya vitakka), liên quan đến đời sống tại gia với năm dục trưởng dưỡng (ngũ trần), vị Tỳ-kheo có năng lực sẽ bước đi trên con đường ly tham xuất gia.” Tương phản giữa lạc thú thế tục và hỷ lạc xuất ly được trình bày rõ hơn trong Kinh Trung Bộ (MN I 217,13–218,6).

Sớ Giải

94. saḷavaggassa paṭhame adantāti adamitā. aguttāti agopitā. arakkhitāti na rakkhitā. asaṃvutāti apihitā. dukkhādhivāhā hontīti nerayikādibhedaṃ adhikadukkhaṃ āvahanakā honti. sukhādhivāhā hontīti jhānamaggaphalapabhedaṃ adhikasukhaṃ āvahanakā honti. adhivahātipi pāṭho, esevattho.

saḷevāti cha eva. asaṃvuto yattha dukkhaṃ nigacchatīti yesu āyatanesu saṃvaravirahito dukkhaṃ pāpuṇāti. tesañca ye saṃvaraṇaṃ avedisunti ye tesaṃ āyatanānaṃ saṃvaraṃ vindiṃsu paṭilabhiṃsu. viharantānavassutāti viharanti anavassutā atintā.

asāditañca sādunti assādavantañca madhurañca. phassadvayaṃ sukhadukkhe upekkheti sukhaphassañca dukkhaphassañcāti idaṃ phassadvayaṃ upekkhe, upekkhāmevettha uppādeyyāti attho. phassadvayaṃ sukhadukkhaṃ upekkhoti vā pāṭho, phassahetukaṃ sukhadukkhaṃ upekkho, sukhe anurodhaṃ dukkhe ca virodhaṃ anuppādento upekkhako bhaveyyātipi attho. anānuruddho aviruddho kenacīti kenaci saddhiṃ neva anuruddho na viruddho bhaveyya.

 papañcasaññāti kilesasaññāya papañcasaññā nāma hutvā. itarītarā narāti lāmakasattā papañcayantā upayantīti papañcayamānā vaṭṭaṃ upagacchanti. saññinoti sasaññā sattā. manomayaṃ gehasitañca sabbanti sabbameva pañcakāmaguṇagehanissitaṃ manomayaṃ vitakkaṃ. panujjāti panuditvā nīharitvā. nekkhammasitaṃ irīyatīti dabbajātiko bhikkhu nekkhammasitaṃ iriyena irīyati.

 chassu yadā subhāvitoti chasu ārammaṇesu yadā suṭṭhu bhāvito. phuṭṭhassa cittaṃ na vikampate kvacīti sukhaphassena vā dukkhaphassena vā phuṭṭhassa kismiñci cittaṃ na kampati na vedhati. bhavattha jātimaraṇassa pāragāti jātimaraṇānaṃ pāraṃ nibbānaṃ gamakā hotha.

Chú thích Kinh số 94 – Phẩm Sáu Xứ (Phần đầu)

“Adantā”: nghĩa là chưa được điều phục.
“Aguttā”: nghĩa là không được canh giữ (hộ trì).
“Arakkhitā”: nghĩa là không được bảo vệ.
“Asaṃvutā”: nghĩa là không được chế ngự, không khép kín.

“Dukkhādhivāhā honti”: nghĩa là chúng trở thành nguyên nhân mang đến khổ đau lớn, như các cảnh giới địa ngục v.v...
“Sukhādhivāhā honti”: nghĩa là chúng mang đến hạnh phúc cao thượng, như thiền định, đạo quả v.v...

“Adhivāhā” cũng có thể là cách đọc khác, nhưng ý nghĩa vẫn như vậy.

“Saḷevā”: nghĩa là sáu căn (xứ) ấy.
“Asaṃvuto yattha dukkhaṃ nigacchati”: nghĩa là khi không chế ngự, tại sáu căn ấy, khổ đau sẽ sinh khởi.

“Tesañca ye saṃvaraṇaṃ avedisun”: nghĩa là những ai đã hiểu và đạt được sự chế ngự nơi các căn ấy.

“Viharantā anavassutā”: họ sống không bị thấm nhiễm (không bị ô nhiễm), không bị trói buộc.

“Asāditañca sādu”: nghĩa là những gì đáng ưa, ngọt ngào (thọ lạc).
“Phassadvayaṃ sukhadukkhe upekkhe”: nghĩa là hãy giữ tâm xả đối với hai loại xúc chạm: lạc và khổ. Tức là phải phát khởi tâm xả.

Hoặc có thể đọc là: “Phassadvayaṃ sukhadukkhaṃ upekkho”, nghĩa là xả đối với cảm thọ khổ và lạc do xúc sanh khởi. Nghĩa rộng là: không sinh tâm tham đắm với lạc, cũng không sinh tâm sân hận với khổ, trở thành người giữ được tâm xả.

“Anānuruddho aviruddho kenaci”: nghĩa là không bị hấp dẫn (thuận) hay chống đối (nghịch) với bất kỳ điều gì.

“Papañcasaññā”: là tri giác phóng dật, tức là tri giác bị phiền não làm ô nhiễm (kilesasaññā).

“Itarītarā narā”: tức là những người thấp kém, vì bị cuốn theo sự phóng dật, nên trôi lăn trong vòng luân hồi (vaṭṭa).

“Saññino”: nghĩa là chúng sinh có tri giác (cảm nhận).

“Manomayaṃ gehasitañca sabbaṃ”: nghĩa là mọi suy nghĩ do tâm tạo ra, dựa trên năm dục trưởng dưỡng, thuộc về đời sống tại gia.

“Panujjāti”: nghĩa là loại bỏ, từ bỏ, mang ý nghĩa trục xuất khỏi tâm.

“Nekkhammasitaṃ irīyati”: nghĩa là vị Tỳ-kheo có căn cơ thuần thục sẽ sống theo hạnh ly tham, hành trì với tâm xuất ly.

“Chassu yadā subhāvito”: khi tâm được tu tập tốt nơi sáu căn, nghĩa là đã được phát triển toàn diện đối với sáu đối tượng (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).

“Phuṭṭhassa cittaṃ na vikampate kvaci”: dù xúc chạm với cảm thọ lạc hay khổ, tâm cũng không dao động, không bị chấn động trong bất kỳ trường hợp nào.

“Bhavattha jātimaraṇassa pāragā”: hãy trở thành người vượt qua bờ sinh và tử, tức là đạt đến Niết-bàn, thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

94. I. Thâu Nhiếp (S.iv,70)

1) ...

2) -- Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?

3-5) Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...

6-7) ... Lưỡi... Thân...

8) Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

9) Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

10) Có sáu xúc này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?

11-13) Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc... Tai... Mũi...

14-15) ... Lưỡi... Thân...

16) Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

17) Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

18) Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

1) Hỡi các vị Tỷ-kheo,
Chính sáu xúc xứ này,
Chỗ nào không thâu nhiếp,
Chỗ ấy có đau khổ.
Những ai học biết được,
Chế ngự, phòng hộ chúng,
Với lòng tin làm bạn,
Sống thoát ly dục vọng.

2) Thấy sắc pháp khả ái,
Thấy sắc không khả ái,
Hãy nhiếp phục đường tham,
Ðối các sắc khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
"Ðối sắc, ta không thích".

3) Sau khi nghe các tiếng,
Khả ái, không khả ái,
Chớ để tâm say mê,
Với các tiếng khả ái.
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Với tiếng không khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
"Ðối tiếng, ta không thích".

4) Sau khi ngửi các hương,
Thơm dịu, thật khả ái,
Sau khi ngửi các hương,
Bất tịnh, thật đáng ghét;
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Ðối các hương đáng ghét,
Còn đối hương khả ái,
Chớ để dục chi phối.

5) Nếm xong vị ngon ngọt,
Và nếm vị không ngon,
Chớ có sanh tham luyến,
Khi hưởng nếm vị ngon,
Chớ nói lời chống đối,
Khi nếm vị không ngon.

6) Khi cảm thọ lạc xúc,
Chớ đắm say tham luyến,
Khi cảm thọ khổ xúc,
Chớ bị xúc động mạnh.
Ðối với cả hai xúc,
Lạc, khổ đều niệm xả,
Không thích, không chống đối,
Bất cứ loại xúc nào.

7) Ðối với các người khác,
Mê theo hý luận tưởng,
Họ mê theo hý luận,
Họ hành theo hư tưởng;
Hãy đoạn trừ tất cả,
Gia sự do ý tạo,
Hãy nhiếp các hành động,
Hướng đến hạnh viễn ly.

8) Như vậy đối sáu xứ,
Khi ý khéo tu tập,
Nếu có cảm xúc gì,
Tâm không bị dao động.
Tỷ-kheo hãy nhiếp phục,
Cả hai tham sân ấy,
Hãy đến bờ bên kia,
Vượt buộc ràng sanh tử.