Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - Tâm Giải Thoát Bất Động - Kinh Đá Tảng (Pāsāṇasuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - Tâm Giải Thoát Bất Động - Kinh Đá Tảng (Pāsāṇasuttaṃ)

Tuesday, 01/03/2022, 15:39 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 1.3.2022


Tâm Giải Thoát Bất Động

Kinh Đá Tảng (Pāsāṇasuttaṃ)

(CHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ HAI) (S.i, 109)

Phần đông quan niệm sự sợ hãi đến từ ngoại giới. Phật Pháp dạy rõ nếu nội tâm hoàn toàn giải thoát thì cho dù bên ngoài có muôn ngàn đe doạ hiểm nạn xẩy ra thì tâm vẫn an nhiên. Nội tâm càng thanh tịnh do tu tập thì càng ít giao động do ngoại cảnh chi phối. Ma không hiểu sự thể nầy ở nơi Phật nên muốn khiến Phật hoảng hốt. Lời nói ngắn gọn của Đức Phật cũng cho Ma thấy là sự hù doạ như vậy là vô ích.


Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.

Thuở ấy Đức Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), trên đỉnh Gijjhakuta (Linh Thứu).

Tena kho pana samayena bhagavā rattandhakāratimisāyaṃ abbhokāse nisinno hoti, devo ca ekamekaṃ phusāyati.

Lúc đó, Đức Thế Tôn đang ngồi trong bóng đêm ngoài trời và trời đang nhỏ mưa từng hạt.

Atha kho māro pāpimā bhagavato bhayaṃ chambhitattaṃ lomahaṃsaṃ uppādetukāmo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato avidūre mahante pāsāṇe padālesi.

Bấy giờ Ác ma muốn khiến Đức Thế Tôn sợ hãi, hoảng hốt, kinh khiếp đi đến xô đẩy những tảng đá rơi xuống cách Đức Thế Tôn không xa.

Atha kho bhagavā ‘‘māro ayaṃ pāpimā’’ iti viditvā māraṃ pāpimantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

Đức Thế Tôn nhận biết “Đây là Ác ma”, Ngài nói lên kệ ngôn:

‘‘Sacepi kevalaṃ sabbaṃ,

gijjhakūṭaṃ calessasi;

Neva sammāvimuttānaṃ,

buddhānaṃ atthi iñjitan’ti

Dù ngươi gây địa chấn

Khắp cả Linh Thứu Sơn

Phật không chút giao động

Bởi đã chánh giải thoát.

Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.

Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta" nên buồn và thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy.


‘‘Sacepi kevalaṃ sabbaṃ gijjhakūṭaṃ calessasi

Cho dù ngươi có làm chấn động Linh Thứu Sơn

Neva sammāvimuttānaṃ buddhānaṃ atthi iñjitan’ti

Không có giao động ở Phật Đà vì đã chân chánh giải thoát.

Đỉnh Gijjhakuta (Linh Thứu) là một đỉnh núi trên một rặng núi bao chung quanh Vương Xá. Trên đỉnh có một mõm đá hình đầu con kên kên nên gọi là Linh Thứu Sơn (Ý nghĩa rất khác với chữ Linh Sơn theo cách hiểu ngày nay)

Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

-ooOoo-

1. Pāsāṇasuttaṃ [Mūla]

147. Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate. Tena kho pana samayena bhagavā rattandhakāratimisāyaṃ abbhokāse nisinno hoti, devo ca ekamekaṃ phusāyati. Atha kho māro pāpimā bhagavato bhayaṃ chambhitattaṃ lomahaṃsaṃ uppādetukāmo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato avidūre mahante pāsāṇe padālesi.

Atha kho bhagavā ‘‘māro ayaṃ pāpimā’’ iti viditvā māraṃ pāpimantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

‘‘Sacepi kevalaṃ sabbaṃ, gijjhakūṭaṃ calessasi [gaḷeyyasi (syā. kaṃ.), caleyyāsi (ka.)]; Neva sammāvimuttānaṃ, buddhānaṃ atthi iñjitan’’ti.

Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.

1. Pāsāṇasuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]

147. Dutiyavaggassa paṭhame nisinnoti pubbe vuttanayeneva padhānaṃ pariggaṇhanto nisinno. Māropissa sukhanisinnabhāvaṃ ñatvā ghaṭṭayissāmīti upasaṅkamanto. Padālesīti pabbatapiṭṭhe ṭhatvā pavijjhi. Pāsāṇā nirantarā aññamaññaṃ abhihanantā patanti. Kevalanti sakalaṃ. Sabbanti tasseva vevacanaṃ. Paṭhamaṃ.