Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - Ở TẬN TRỜI CAO MÀ NHƯ ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG - Kinh Một Phạm Thiên Khác (Aññatarabrahmasuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - Ở TẬN TRỜI CAO MÀ NHƯ ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG - Kinh Một Phạm Thiên Khác (Aññatarabrahmasuttaṃ)

, 07/05/2022, 18:25 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 7.5.2022


Ở TẬN TRỜI CAO MÀ NHƯ ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG

Kinh Một Phạm Thiên Khác (Aññatarabrahmasuttaṃ)

CHƯƠNG VI. TƯƠNG ƯNG PHẠM THIÊN – PHẨM THỨ NHẤT (S. i, 144)

Ở cảnh giới cao người ta thường tự thị, chính vì thế, hoá ra nông cạn. Với thọ mạng rất dài và năng lực thiền định, các vị phạm thiên rất dễ sanh cái nhìn thường kiến và sự tối thắng của bản thân đặc biệt là các vị Đại Phạm thiên. Người chấp ngã luôn luôn có cái nhìn rất thấp và phiến diện cho dù bản thân người đó ở địa vị cao trọng nào. Bài kinh cũng mang một gợi ý khác là khi một người thật sự nhận ra giá trị vô thượng của Phật, Pháp, Tăng sẽ giảm thiểu ngã chấp, nhờ vậy, tinh tiến trên đường tu tập.

Sāvatthinidānaṃ. Tena kho pana samayena aññatarassa brahmuno evarūpaṃ pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppannaṃ hoti – ‘‘natthi so samaṇo vā brāhmaṇo vā yo idha āgaccheyyā’’ti. Atha kho bhagavā tassa brahmuno cetasā cetoparivitakkamaññāya – seyyathāpi nāma balavā puriso...pe... tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Atha kho bhagavā tassa brahmuno upari vehāsaṃ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā.

Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi – ‘‘kahaṃ nu kho bhagavā etarahi viharatī’’ti? Addasā kho āyasmā mahāmoggallāno [mahāmoggalāno (ka.)] bhagavantaṃ dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena tassa brahmuno upari vehāsaṃ pallaṅkena nisinnaṃ tejodhātuṃ samāpannaṃ. Disvāna – seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya evameva – jetavane antarahito tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno puratthimaṃ disaṃ nissāya [upanissāya (sī.)] tassa brahmuno upari vehāsaṃ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā nīcataraṃ bhagavato.

Tại Sāvatthi.

Bấy giờ, có một Phạm thiên khởi lên châp kiến sai lạc: "Không một Sa môn hay Bà la môn nào có thể đến đây".

Rồi Đức Thế Tôn, với tâm tư của mình biết được tâm tư của Phạm thiên ấy. Nhanh như người luyện tập thể hình co duỗi cánh tay Ngài biến mất ở Jetavana (Kỳ Viên) và hiện ra ở Phạm thiên giới. Đức Thế Tôn ngồi kiết già giữa hư không, phía trên đầu Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội định.

Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna khởi lên ý nghĩ: "Nay Thế Tôn đang ở đâu?". Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Tôn giả Mahāmoggallāna thấy Đức Thế Tôn ngồi kiết già giữa hư không, phía trên đầu Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội định. Thấy vậy, ngài biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy nhanh như người luyện tập thể hình co duỗi cánh tay. Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna ngồi kiết già giữa hư không phía dưới Thế Tôn về hướng đông trên đầu vị Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội định.

Atha kho āyasmato mahākassapassa etadahosi – ‘‘kahaṃ nu kho bhagavā etarahi viharatī’’ti? Addasā kho āyasmā mahākassapo bhagavantaṃ dibbena cakkhunā...pe... disvāna – seyyathāpi nāma balavā puriso...pe... evameva – jetavane antarahito tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā mahākassapo dakkhiṇaṃ disaṃ nissāya tassa brahmuno upari vehāsaṃ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā nīcataraṃ bhagavato.

Rồi Tôn giả Mahākassapa khởi lên ý nghĩ: "Nay Thế Tôn đang ở đâu?". Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Tôn giả Mahākassapa thấy Đức Thế Tôn ngồi kiết già giữa hư không, phía trên đầu Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội định. Thấy vậy, ngài biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy nhanh như người luyện tập thể hình co duỗi cánh tay. Rồi Tôn giả Mahākassapa ngồi kiết già giữa hư không phía dưới Thế Tôn về hướng nam trên đầu vị Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội định.

Atha kho āyasmato mahākappinassa etadahosi – ‘‘kahaṃ nu kho bhagavā etarahi viharatī’’ti? Addasā kho āyasmā mahākappino bhagavantaṃ dibbena cakkhunā...pe... tejodhātuṃ samāpannaṃ. Disvāna – seyyathāpi nāma balavā puriso...pe... evameva – jetavane antarahito tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā mahākappino pacchimaṃ disaṃ nissāya tassa brahmuno upari vehāsaṃ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā nīcataraṃ bhagavato.

Rồi Tôn giả Mahākappina khởi lên ý nghĩ: "Nay Thế Tôn đang ở đâu?". Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Tôn giả Mahākappina thấy Đức Thế Tôn ngồi kiết già giữa hư không, phía trên đầu Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội định.. Thấy vậy, ngài biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy nhanh như người luyện tập thể hình co duỗi cánh tay. Rồi Tôn giả Mahākappina ngồi kiết già giữa hư không phía dưới Thế Tôn về hướng tây trên đầu vị Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội định.

Atha kho āyasmato anuruddhassa etadahosi – ‘‘kahaṃ nu kho bhagavā etarahi viharatī’’ti? Addasā kho āyasmā anuruddho...pe... tejodhātuṃ samāpannaṃ. Disvāna – seyyathāpi nāma balavā puriso... pe... tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā anuruddho uttaraṃ disaṃ nissāya tassa brahmuno upari vehāsaṃ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā nīcataraṃ bhagavato.

Rồi Tôn giả Anuruddha khởi lên ý nghĩ: "Nay Thế Tôn đang ở đâu?". Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Tôn giả Anuruddha thấy Đức Thế Tôn ngồi kiết già giữa hư không, phía trên đầu Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội định. Thấy vậy, ngài biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy nhanh như người luyện tập thể hình co duỗi cánh tay. Rồi Tôn giả Anuruddha ngồi kiết già giữa hư không phía dưới Thế Tôn về hướng bắc trên đầu vị Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội định.

Atha kho āyasmā mahāmoggallāno taṃ brahmānaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

‘‘Ajjāpi te āvuso sā diṭṭhi, yā te diṭṭhi pure ahu;

Passasi vītivattantaṃ, brahmaloke pabhassara’’nti.

‘‘Na me mārisa sā diṭṭhi, yā me diṭṭhi pure ahu;

Passāmi vītivattantaṃ, brahmaloke pabhassaraṃ;

Svāhaṃ ajja kathaṃ vajjaṃ, ahaṃ niccomhi sassato’’ti.

Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna nói Phạm thiên ấy bằng kệ ngôn:

Hôm nay, hỡi Hiền giả

Còn chấp kiến như trước?

Có thấy hào quang toả

Vượt xa phạm thiên giới?

(Phạm thiên ấy)

Thưa Ngài, tôi không còn

Chấp kiến như lúc trước

Tôi đã thấy hào quang

Vượt xa phạm thiên giới

Làm sao mang định kiến

Về cái tôi hằng hữu?

Atha kho bhagavā taṃ brahmānaṃ saṃvejetvā – seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya evameva – tasmiṃ brahmaloke antarahito jetavane pāturahosi. Atha kho so brahmā aññataraṃ brahmapārisajjaṃ āmantesi – ‘‘ehi tvaṃ, mārisa, yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ evaṃ vadehi – ‘atthi nu kho, mārisa moggallāna, aññepi tassa bhagavato sāvakā evaṃmahiddhikā evaṃmahānubhāvā; seyyathāpi bhavaṃ moggallāno kassapo kappino anuruddho’’’ti? ‘‘Evaṃ, mārisā’’ti kho so brahmapārisajjo tassa brahmuno paṭissutvā yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ etadavoca – ‘‘atthi nu kho, mārisa moggallāna, aññepi tassa bhagavato sāvakā evaṃmahiddhikā evaṃmahānubhāvā; seyyathāpi bhavaṃ moggallāno kassapo kappino anuruddho’’ti? Atha kho āyasmā mahāmoggallāno taṃ brahmapārisajjaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

‘‘Tevijjā iddhipattā ca, cetopariyāyakovidā;

Khīṇāsavā arahanto, bahū buddhassa sāvakā’’ti.

Rồi Thế Tôn sau khi làm cho Phạm thiên ấy rúng động tâm tư, biến mất ở Phạm thiên giới ấy và hiện ra ở Jetavana nhanh như người luyện tập thể hình co duỗi cánh tay.

Rồi Phạm thiên ấy nói với một Phạm thiên trong thiên chúng:

-- Này Tôn giả, hãy đi đến Tôn giả Mahāmoggallāna và bạch hỏi: "Thưa Tôn giả Moggallāna, Đức Thế Tôn còn có những vị đệ tử nào khác mà thần lực và uy đức như các Tôn giả Moggallāna, Kassapa, Kappina và Anuruddha?"

-- Thưa vâng, Tôn giả.

Phạm thiên trong thiên chúng vâng đáp Phạm thiên ấy và đi đến Tôn giả Mahāmoggallāna bạch hỏi rằng: "Thưa Tôn giả Moggallāna, Đức Thế Tôn còn có những vị đệ tử nào khác mà thần lực và uy đức như các Tôn giả Moggallāna, Kassapa, Kappina và Anuruddha?"

(Tôn giả Mahāmoggallāna trả lời)

Rất nhiều đệ tử Phật

Bậc La Hán vô lậu

Với thần lực tam minh

Khéo đọc tâm người khác.

Atha kho so brahmapārisajjo āyasmato mahāmoggallānassa bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā yena so brahmā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ brahmānaṃ etadavoca – ‘‘āyasmā mārisa, mahāmoggallāno evamāha –

‘‘Tevijjā iddhipattā ca, cetopariyāyakovidā;

Khīṇāsavā arahanto, bahū buddhassa sāvakā’’ti.

Rồi Phạm thiên ấy hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Mahāmoggallāna đi đến Ðại Phạm thiên thưa rằng:

-- Thưa Tôn giả, Tôn giả Mahāmoggallāna cho biết:

Rất nhiều đệ tử Phật

Bậc La Hán vô lậu

Với thần lực tam minh

Khéo đọc tâm người khác.

Idamavoca so brahmapārisajjo. Attamano ca so brahmā tassa brahmapārisajjassa bhāsitaṃ abhinandīti.

Phạm thiên ấy nói như vậy, vị Đại Phạm thiên kia hoan hỷ tín thọ.

‘‘Ajjāpi te āvuso sā diṭṭhi yā te diṭṭhi pure ahu = hôm nay Người có còn kiến chấp trước kia?

Passasi vītivattantaṃ brahmaloke pabhassara’’nti = có thấy hào quang toả sáng vượt xa phạm thiên giới?

‘‘Na me mārisa sā diṭṭhi yā me diṭṭhi pure ahu = tôi không còn kiến chấp ngày trước

Passāmi vītivattantaṃ brahmaloke pabhassaraṃ = tôi có thấy hào quang toả sáng vượt xa phạm thiên giới

Svāhaṃ ajja kathaṃ vajjaṃ ahaṃ niccomhi sassato’’ti = hôm nay làm thế nào để tôi tiếp tục cho rằng: cái tôi là thường hằng bất biến

--

‘‘Tevijjā iddhipattā ca = chứng thần lực tam minh

cetopariyāyakovidā = đọc tâm của người khác

Khīṇāsavā arahanto = bậc a la hán vô lậu

bahū buddhassa sāvakā’’ti = có nhiều đệ tử của Đức Phật (như vậy)

Nhập hoả tam muội định ở đây là nhập vào thiền án lửa sau đó xuất thiền và khởi niệm: lửa từ châu thân phun ra.

Theo Sớ giải thì bấy giờ hào quang của Đức Phật sáng hơn tất cả những ánh sáng tại phạm thiên giới.

Theo Sớ giải thì vị Đại Phạm thiên có hai cái nhìn sai lầm: một là cho rằng không có một sa môn hay bà la môn nào có thể để cõi phạm thiên ấy hay là chấp vào thường kiến. Khi Đức Phật và các đệ tử xuất hiện thì sự chấp sai đầu tiên không còn và sau đó Đức Phật đã giảng pháp và vị Đại phạm thiên chứng quả nhập lưu.

Tam minh là ba thứ tuệ giác ưu việt: túc mạng minh, sanh tử minh và lậu tận minh. Một vị chứng tam minh luôn có lục thông trong lúc một vị chứng lục thông không hẳn có đủ tam minh.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

5. Aññatarabrahmasuttaṃ [Mūla]

176. Sāvatthinidānaṃ. Tena kho pana samayena aññatarassa brahmuno evarūpaṃ pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppannaṃ hoti – ‘‘natthi so samaṇo vā brāhmaṇo vā yo idha āgaccheyyā’’ti. Atha kho bhagavā tassa brahmuno cetasā cetoparivitakkamaññāya – seyyathāpi nāma balavā puriso...pe... tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Atha kho bhagavā tassa brahmuno upari vehāsaṃ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā.

Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi – ‘‘kahaṃ nu kho bhagavā etarahi viharatī’’ti? Addasā kho āyasmā mahāmoggallāno [mahāmoggalāno (ka.)] bhagavantaṃ dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena tassa brahmuno upari vehāsaṃ pallaṅkena nisinnaṃ tejodhātuṃ samāpannaṃ. Disvāna – seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya evameva – jetavane antarahito tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno puratthimaṃ disaṃ nissāya [upanissāya (sī.)] tassa brahmuno upari vehāsaṃ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā nīcataraṃ bhagavato.

Atha kho āyasmato mahākassapassa etadahosi – ‘‘kahaṃ nu kho bhagavā etarahi viharatī’’ti? Addasā kho āyasmā mahākassapo bhagavantaṃ dibbena cakkhunā...pe... disvāna – seyyathāpi nāma balavā puriso...pe... evameva – jetavane antarahito tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā mahākassapo dakkhiṇaṃ disaṃ nissāya tassa brahmuno upari vehāsaṃ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā nīcataraṃ bhagavato.

Atha kho āyasmato mahākappinassa etadahosi – ‘‘kahaṃ nu kho bhagavā etarahi viharatī’’ti? Addasā kho āyasmā mahākappino bhagavantaṃ dibbena cakkhunā...pe... tejodhātuṃ samāpannaṃ. Disvāna – seyyathāpi nāma balavā puriso...pe... evameva – jetavane antarahito tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā mahākappino pacchimaṃ disaṃ nissāya tassa brahmuno upari vehāsaṃ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā nīcataraṃ bhagavato.

Atha kho āyasmato anuruddhassa etadahosi – ‘‘kahaṃ nu kho bhagavā etarahi viharatī’’ti? Addasā kho āyasmā anuruddho...pe... tejodhātuṃ samāpannaṃ. Disvāna – seyyathāpi nāma balavā puriso... pe... tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā anuruddho uttaraṃ disaṃ nissāya tassa brahmuno upari vehāsaṃ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā nīcataraṃ bhagavato.

Atha kho āyasmā mahāmoggallāno taṃ brahmānaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

‘‘Ajjāpi te āvuso sā diṭṭhi, yā te diṭṭhi pure ahu;

Passasi vītivattantaṃ, brahmaloke pabhassara’’nti.

‘‘Na me mārisa sā diṭṭhi, yā me diṭṭhi pure ahu;

Passāmi vītivattantaṃ, brahmaloke pabhassaraṃ;

Svāhaṃ ajja kathaṃ vajjaṃ, ahaṃ niccomhi sassato’’ti.

Atha kho bhagavā taṃ brahmānaṃ saṃvejetvā – seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya evameva – tasmiṃ brahmaloke antarahito jetavane pāturahosi. Atha kho so brahmā aññataraṃ brahmapārisajjaṃ āmantesi – ‘‘ehi tvaṃ, mārisa, yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ evaṃ vadehi – ‘atthi nu kho, mārisa moggallāna, aññepi tassa bhagavato sāvakā evaṃmahiddhikā evaṃmahānubhāvā; seyyathāpi bhavaṃ moggallāno kassapo kappino anuruddho’’’ti? ‘‘Evaṃ, mārisā’’ti kho so brahmapārisajjo tassa brahmuno paṭissutvā yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ etadavoca – ‘‘atthi nu kho, mārisa moggallāna, aññepi tassa bhagavato sāvakā evaṃmahiddhikā evaṃmahānubhāvā; seyyathāpi bhavaṃ moggallāno kassapo kappino anuruddho’’ti? Atha kho āyasmā mahāmoggallāno taṃ brahmapārisajjaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

‘‘Tevijjā iddhipattā ca, cetopariyāyakovidā;

Khīṇāsavā arahanto, bahū buddhassa sāvakā’’ti.

Atha kho so brahmapārisajjo āyasmato mahāmoggallānassa bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā yena so brahmā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ brahmānaṃ etadavoca – ‘‘āyasmā mārisa, mahāmoggallāno evamāha –

‘‘Tevijjā iddhipattā ca, cetopariyāyakovidā;

Khīṇāsavā arahanto, bahū buddhassa sāvakā’’ti.

Idamavoca so brahmapārisajjo. Attamano ca so brahmā tassa brahmapārisajjassa bhāsitaṃ abhinandīti.

5. Aññatarabrahmasuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]

176. Pañcame tejodhātuṃ samāpajjitvāti tejokasiṇaparikammaṃ katvā pādakajjhānato vuṭṭhāya, ‘‘sarīrato jālā nikkhamantū’’ti adhiṭṭhahanto adhiṭṭhānacittānubhāvena sakalasarīrato jālā nikkhamanti, evaṃ tejodhātuṃ samāpanno nāma hoti, tathā samāpajjitvā. Tasmiṃ brahmaloketi kasmā thero tattha agamāsi? Therassa kira tejodhātuṃ samāpajjitvā tassa brahmuno upari nisinnaṃ tathāgataṃ disvā ‘‘aṭṭhivedhī ayaṃ puggalo, mayāpettha gantabba’’nti ahosi, tasmā agamāsi. Sesānaṃ gamanepi eseva nayo. So hi brahmā tathāgatassa ceva tathāgatasāvakānañca ānubhāvaṃ adisvā abhabbo vinayaṃ upagantuṃ, tena so sannipāto ahosi. Tattha tathāgatassa sarīrato uggatajālā sakalabrahmalokaṃ atikkamitvā ajaṭākāse pakkhandā, tā ca pana chabbaṇṇā ahesuṃ, tathāgatassa sāvakānaṃ ābhā pakativaṇṇāva.

Passasi vītivattantanti imasmiṃ brahmaloke aññabrahmasarīravimānālaṅkārādīnaṃ pabhā atikkamamānaṃ buddhassa bhagavato pabhassaraṃ pabhaṃ passasīti pucchati. Na me, mārisa, sā diṭṭhīti yā mesā, ‘‘idhāgantuṃ samattho añño samaṇo vā brāhmaṇo vā natthī’’ti pure diṭṭhi, natthi me sā. Kathaṃ vajjanti kena kāraṇena vadeyyaṃ. Niccomhi sassatoti imassa kira brahmuno laddhidiṭṭhi sassatadiṭṭhi cāti dve diṭṭhiyo. Tatrāssa tathāgatañceva tathāgatasāvake ca passato laddhidiṭṭhi pahīnā. Bhagavā panettha mahantaṃ dhammadesanaṃ desesi. Brahmā desanāpariyosāne sotāpattiphale patiṭṭhahi. Itissa maggena sassatadiṭṭhi pahīnā, tasmā evamāha.

Brahmapārisajjanti brahmapāricārikaṃ. Therānañhi bhaṇḍagāhakadaharā viya brahmānampi pārisajjā brahmāno nāma honti. Tenupasaṅkamāti kasmā therasseva santikaṃ pesesi? There kirassa tattakeneva kathāsallāpena vissāso udapādi, tasmā tasseva santikaṃ pesesi aññepīti yathā tumhe cattāro janā, kinnu kho evarūpā aññepi atthi, udāhu tumhe cattāro eva mahiddhikāti? Tevijjāti pubbenivāsadibbacakkhuāsavakkhayasaṅkhātāhi tīhi vijjāhi samannāgatā. Iddhipattāti iddhividhañāṇaṃ pattā. Cetopariyāyakovidāti paresaṃ cittācāre kusalā. Evamettha pañca abhiññāpi sarūpena vuttā. Dibbasotaṃ pana tāsaṃ vasena āgatameva hoti. Bahūti evarūpā chaḷabhiññā buddhasāvakā bahū gaṇanapathaṃ atikkantā, sakalaṃ jambudīpaṃ kāsāvapajjotaṃ katvā vicarantīti. Pañcamaṃ.