Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - NGƯỜI TÓC RỐI HỎI CHUYỆN RỐI - Kinh Jaṭā (Jaṭāsuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - NGƯỜI TÓC RỐI HỎI CHUYỆN RỐI - Kinh Jaṭā (Jaṭāsuttaṃ)

Tuesday, 28/06/2022, 15:34 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 28.6.2022


NGƯỜI TÓC RỐI HỎI CHUYỆN RỐI

Kinh Jaṭā (Jaṭāsuttaṃ)

CHƯƠNG VII. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN – PHẨM A LA HÁN THỨ NHẤT (S.i,165)

Rối rắm là một trong những hệ luỵ của kiếp người. Ai từng phải ngồi kiên nhẫn gỡ ra cuộn chỉ rối mới thấy được chuyện ấy khó thế nào. Cuộc sống, dù là chỉ riêng cá nhân với năm uẩn, đã có trăm ngàn mối rối. Càng ý thức thì càng thấy nhiều rối ren. Nhận ra được những tế toái muôn vàn và tìm phương tháo gỡ là dấu hiệu của người sống có hiểu biết. Đức Phật đi xa hơn với phương pháp vượt thoát những rối rắm trong đời qua sự thực hành giới, định, tuệ.

Sāvatthinidānaṃ. Atha kho jaṭābhāradvājo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṃ sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi.

Ekamantaṃ nisinno kho jaṭābhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

Tại Sāvatthi.

Bấy giờ bà la môn Jaṭā Bhāradvāja đi đến Thế Tôn sau khi đến, nói lên với thăm hỏi xã giao thân thiện rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi, bà la môn Jaṭā Bhāradvāja bạch Thế Tôn:

‘‘Antojaṭā bahijaṭā, jaṭāya jaṭitā pajā;

Taṃ taṃ gotama pucchāmi, ko imaṃ vijaṭaye jaṭa’’nti.

‘‘Rối bên trong, rối ngoài

Chúng sanh đầy rối rắm

Con hỏi Đức Cồ Đàm

Ai tháo bỏ rối ren?

(Thế Tôn)

‘‘Sīle patiṭṭhāya naro sapañño, cittaṃ paññañca bhāvayaṃ;

Ātāpī nipako bhikkhu, so imaṃ vijaṭaye jaṭaṃ.

‘‘Yesaṃ rāgo ca doso ca, avijjā ca virājitā;

Khīṇāsavā arahanto, tesaṃ vijaṭitā jaṭā.

‘‘Yattha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhati;

Paṭighaṃ rūpasaññā ca, etthesā chijjate jaṭā’’ti.

‘‘Người trí y cứ giới

Tu tâm và tu tuệ

Nhiệt tâm và cẩn trọng

Tỳ khưu thoát rối ren.

‘‘Bậc đoạn tận tham, sân

Vô minh cũng chẳng còn

Bậc ứng cúng vô lậu

Vị ấy thoát rối ren.

‘‘Nơi danh sắc không còn

Tịch diệt, vô dư y

Không xung động sắc tưởng

Ở đấy không rối ren.

Evaṃ vutte, jaṭābhāradvājo bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘abhikkantaṃ, bho gotama...pe... aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahataṃ ahosī’’ti.

Ðược nghe vậy, bà la môn Jaṭā Bhāradvāja bạch Đức Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Diệu Pháp được Tôn giả Gotama hiển bày như người dựng đứng những gì bị ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, hay đem đèn sáng vào chỗ tăm tối để những ai có mắt thấy được. Con xin nương tựa Đức Thế Tôn Gotama, xin nương tựa Pháp, xin nương tựa tỳ khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia với Đức Thế Tôn, và được thọ đại giới.

Bà la môn Jaṭā Bhāradvāja được xuất gia và thọ đại giới từ Đức Thế Tôn.

Thọ giới không lâu, Tôn giả Jaṭā Bhāradvāja sống độc cư, viễn ly, cần mẫn, không xao lãng, quyết tâm và tự thân chứng ngộ chánh trí ngay trong kiếp hiện tại. Đây chính là cứu cánh mà những thiện gia nam tử đi tu sống không gia đình hướng tới. Vị ấy chính mình biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa".

Và Tôn giả Jaṭā Bhāradvāja trở thành một vị A-la-hán nữa.

‘‘Antojaṭā bahijaṭā = trong rối, ngoài cũng rối

jaṭāya jaṭitā pajā = chúng sanh vướng mắc rối rắm

Taṃ taṃ gotama pucchāmi = Con xin hỏi Đức Gotama

ko imaṃ vijaṭaye jaṭa’’nti = Ai là người gỡ ra được những rối ren

‘‘Sīle patiṭṭhāya naro sapañño = Người trí y cứ trên giới hạnh

cittaṃ paññañca bhāvayaṃ = tu tâm và tu tuệ

Ātāpī nipako bhikkhu = vị tỳ khưu nhiệt tâm và kiên trì

so imaṃ vijaṭaye jaṭaṃ = vị ấy thoát sự rối ren nầy

‘‘Yesaṃ rāgo ca doso ca avijjā ca virājitā = người nhỗ tận ái tham, sân độc và vô minh

Khīṇāsavā arahanto = Bậc ứng cúng lậu tận

tesaṃ vijaṭitā jaṭā = vị ấy gỡ ra được những rối ren

‘‘Yattha nāmañca rūpañca asesaṃ uparujjhati = nơi mà danh sắc hoàn toàn tịch diệt

Paṭighaṃ rūpasaññā ca = kể cả sự xung động đối với sắc tưởng

etthesā chijjate jaṭā’’ti = ở đấy không còn những rối ren

Jaṭā Bhāradvāja có thể là bà la môn tóc bện hay tóc đanh hoặc là người hỏi về chuyện rối ren.

Câu Người trí y cứ giới tu tâm và tu tuệ chỉ cho sự tu tập tam học giới định tuệ.

Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

6. Jaṭāsuttaṃ [Mūla]

192. Sāvatthinidānaṃ. Atha kho jaṭābhāradvājo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṃ sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho jaṭābhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

‘‘Antojaṭā bahijaṭā, jaṭāya jaṭitā pajā;

Taṃ taṃ gotama pucchāmi, ko imaṃ vijaṭaye jaṭa’’nti.

‘‘Sīle patiṭṭhāya naro sapañño, cittaṃ paññañca bhāvayaṃ;

Ātāpī nipako bhikkhu, so imaṃ vijaṭaye jaṭaṃ.

‘‘Yesaṃ rāgo ca doso ca, avijjā ca virājitā;

Khīṇāsavā arahanto, tesaṃ vijaṭitā jaṭā.

‘‘Yattha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhati;

Paṭighaṃ rūpasaññā ca, etthesā chijjate jaṭā’’ti.

Evaṃ vutte, jaṭābhāradvājo bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘abhikkantaṃ, bho gotama...pe... aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahataṃ ahosī’’ti.

6. Jaṭāsuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]

192. Chaṭṭhe jaṭābhāradvājoti bhāradvājovesa, jaṭāpañhassa pana pucchitattā saṅgītikārehi evaṃ vutto. Sesaṃ devatāsaṃyutte kathitameva. Chaṭṭhaṃ.