Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ | KÍNH PHẬT TRỌNG TĂNG - Kinh Đảnh Lễ Bậc Đạo Sư (Satthāravandanāsuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ | KÍNH PHẬT TRỌNG TĂNG - Kinh Đảnh Lễ Bậc Đạo Sư (Satthāravandanāsuttaṃ)

Tuesday, 20/12/2022, 17:02 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 20.12.2022


KÍNH PHẬT TRỌNG TĂNG

Kinh Đảnh Lễ Bậc Đạo Sư (Satthāravandanāsuttaṃ)

CHƯƠNG XI. TƯƠNG ƯNG SAKKA - PHẨM THỨ HAI (S. i, 235)

Không thể hiểu Phật nếu không thấy được giá trị cao quý của Chánh Pháp. Không thể kính lễ Bậc Đạo Sư mà không quý trọng đồ chúng do bậc thầy dẫn đạo. Ở đây thành ngữ “kính Phật trọng Tăng” không mang ý nghĩa đối đãi thường tình mà ở cách hiểu xác thật nhất: giác ngộ giải thoát mang giác trị tối thượng; bậc tự mình giác ngộ con đường xuất thế đáng tôn quý mà chính người bước theo chân Thầy cũng đáng tôn quý. Ba ngôi Phật, Pháp, Tăng tuy ba mà một.

Sāvatthiyaṃ jetavane. ‘‘Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, sakko devānamindo mātaliṃ saṅgāhakaṃ āmantesi – ‘yojehi, samma mātali, sahassayuttaṃ ājaññarathaṃ, uyyānabhūmiṃ gacchāma subhūmiṃ dassanāyā’ti. ‘Evaṃ bhaddantavā’ti.

Tại Jetavana (Kỳ Viên), Sāvatthi (Xá Vệ).

-- Này các Tỷ khưu, thuở trước Thiên chủ Sakka nói với người đánh xe như sau:

" - Này Mātali thân mến, hãy thắng ngàn tuấn mã vào cỗ xe. Chúng ta đi đến thượng uyển để ngắm cảnh".

" -- Thưa vâng, Thiên chủ".

Kho, bhikkhave, mātali saṅgāhako sakkassa devānamindassa paṭissutvā sahassayuttaṃ ājaññarathaṃ yojetvā sakkassa devānamindassa paṭivedesi – ‘yutto kho te, mārisa, sahassayutto ājaññaratho. Yassa dāni kālaṃ maññasī’’’ti. Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo vejayantapāsādā orohanto añjaliṃ katvā sudaṃ bhagavantaṃ namassati. Atha kho, bhikkhave, mātali saṅgāhako sakkaṃ devānamindaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

Này các Tỷ khưu, người đánh xe Mātali trả lời Thiên chủ Sakka; sau khi thắng ngàn tuấn mã vào cỗ xe, liền báo với Thiên chủ Sakka:

" -- Thưa Ngài, thiên xa đã sẳn sàng. Ngài có thể tuỳ nghi!"

Này các Tỷ khưu, Thiên chủ Sakka từ cung điện Vejayanta đi xuống, chắp tay đảnh lễ các phương hướng.

Này các Tỷ khưu, bấy giờ người đánh xe Mātali nói với Thiên chủ Sakka bằng kệ ngôn:

‘‘Yañhi devā manussā ca, taṃ namassanti vāsava;

Atha ko nāma so yakkho, yaṃ tvaṃ sakka namassasī’’ti.

“Thưa Đức Vāsava

Nhân thiên kính lễ Ngài

Vậy bậc oai đức nào

Ngài lễ, hỡi Thiên chủ?

(Sakka):

‘‘Yo idha sammāsambuddho, asmiṃ loke sadevake;

Anomanāmaṃ satthāraṃ, taṃ namassāmi mātali.

‘‘Yesaṃ rāgo ca doso ca, avijjā ca virājitā;

Khīṇāsavā arahanto, te namassāmi mātali.

‘‘Ye rāgadosavinayā, avijjāsamatikkamā;

Sekkhā apacayārāmā, appamattānusikkhare;

Te namassāmi mātalī’’ti.

“Ở đây Đấng Chánh Giác

Trong đời với chư thiên

Bậc Đạo Sư uy danh

Ta đảnh lễ vị ấy

Hỡi này Mātali.

“Những La Hán lậu tận

Không tham, sân, vô minh

Ta lễ chư vị ấy

Hỡi này Mātali.

“Bậc hữu học siêng tu

Hoan hỷ hạnh buông xả

Đang tháo gỡ tham, sân,

Và vô minh si ám

Ta lễ chư vị ấy

Hỡi này Mātali.

(Mātali):

‘‘Seṭṭhā hi kira lokasmiṃ, ye tvaṃ sakka namassasi;

Ahampi te namassāmi, ye namassasi vāsavā’’ti.

“Những người Ngài đảnh lễ

Thật cao quý trong đời

Tôi cũng xin kính lễ

Những người Ngài kính lễ

Thưa Ngài Vāsava!

(Thế Tôn):

‘‘Idaṃ vatvāna maghavā, devarājā sujampati;

Bhagavantaṃ namassitvā, pamukho rathamāruhī’’ti.

“Thiên chủ Maghavā

Phu quân của Sujā

Sau khi lễ Thế Tôn

Chủ tể bước lên xe.

‘‘Yañhi devā manussā ca = chư thiên và nhân loại

taṃ namassanti vāsava = đảnh lễ Ngài, hỡi Đức Vāsana

Atha ko nāma so yakkho = vậy bậc oai đức danh gọi gì?

yaṃ tvaṃ sakka namassasī’’ti = mà Ngài đảnh lễ, thưa Đức Sakka?

‘‘Yo idha sammāsambuddho = Ở đây Đấng Chánh Đẳng Giác

asmiṃ loke sadevake = trong thế giới cùng với chư thiên

Anomanāmaṃ satthāraṃ = Bậc Đạo Sư uy danh

taṃ namassāmi mātali = Ta đảnh lễ vị ấy

‘‘Yesaṃ rāgo ca doso ca, avijjā ca virājitā = Đối với những bậc đã tẩy sạch tham dục, sân hận và vô minh.

Khīṇāsavā arahanto = các bậc La Hán lậu tận

te namassāmi mātali = Ta đảnh lễ chư vị ấy, hỡi Mātali

‘‘Ye rāgadosavinayā, avijjāsamatikkamā = những bậc đang gột rửa tham, sân, vô minh

Sekkhā apacayārāmā = những bậc hữu học hoan hỷ trong sự từ bỏ

Appamattānusikkhare = tích cực kiên trì sự tu tập

Te namassāmi mātalī’’ti = Ta đảnh lễ chư vị ấy, hỡi Mātali

‘‘Seṭṭhā hi kira lokasmiṃ ye tvaṃ sakka namassasi = những người Ngài đảnh lễ quả thật cao quý thưa Thiên chủ

Ahampi te namassāmi, ye namassasi vāsavā’ti = Ngài đảnh lễ người nào tôi cũng đảnh lễ người ấy, thưa Vāsava

‘‘Idaṃ vatvāna maghavā, devarājā sujampati = Thiên vương Maghavā phu quân của Sujā sau khi giải thích như vậy

Bhagavantaṃ namassitvā = sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn

pamukho rathamāruhī’ti = Bậc chủ tể leo lên thiên xa

Chữ Satthāra - bậc Đạo Sư, bậc Chân Sư - cần được hiểu với điểm nhấn là bậc có khả năng giáo hoá thiện xảo mà đồ chúng là những vị ưu việt. Trò giỏi thì thầy hay hoặc hiểu ngược lại.

Chữ anomanāmaṃ nghĩa đen là danh xưng tối thượng nhưng theo Sớ giải thì chỉ cho “danh gọi tối thượng trong tất cả danh xưng với phẩm hạnh hoàn toàn tương xứng” (Anomanāmanti sabbaguṇehi omakabhāvassa natthitāya sabbaguṇanemittakehi nāmehi anomanāmaṃ) giống như ý nghĩa của cụm từ “danh bất hư truyền”.

Theo Sớ Giải lý do đề cập tham, sân, vô minh (thay vì tham, sân, si) vì vô minh che lấp sự liễu tri bốn diệu đế (catusaccapaṭic chādikāya vattạ ̣ mūlakaavijjāya samatikkamena ).

Chữ apacaya dịch là đang tháo gỡ chỉ cho công hạnh những bậc đang tu tập, hay bậc hữu học như thường được gọi, khác với “lậu tận” chỉ cho bậc viên giác (cũng được gọi là bậc vô học). Chữ hữu học và vô học trong kinh Hán Tạng mang ý nghĩa rất khác với cách dùng thông thường.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

9. Satthāravandanāsuttaṃ [Mūla]

265. Sāvatthiyaṃ jetavane. ‘‘Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, sakko devānamindo mātaliṃ saṅgāhakaṃ āmantesi – ‘yojehi, samma mātali, sahassayuttaṃ ājaññarathaṃ, uyyānabhūmiṃ gacchāma subhūmiṃ dassanāyā’ti. ‘Evaṃ bhaddantavā’ti kho, bhikkhave, mātali saṅgāhako sakkassa devānamindassa paṭissutvā sahassayuttaṃ ājaññarathaṃ yojetvā sakkassa devānamindassa paṭivedesi – ‘yutto kho te, mārisa, sahassayutto ājaññaratho. Yassa dāni kālaṃ maññasī’’’ti. Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo vejayantapāsādā orohanto añjaliṃ katvā sudaṃ bhagavantaṃ namassati. Atha kho, bhikkhave, mātali saṅgāhako sakkaṃ devānamindaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

‘‘Yañhi devā manussā ca, taṃ namassanti vāsava;

Atha ko nāma so yakkho, yaṃ tvaṃ sakka namassasī’’ti.

‘‘Yo idha sammāsambuddho, asmiṃ loke sadevake;

Anomanāmaṃ satthāraṃ, taṃ namassāmi mātali.

‘‘Yesaṃ rāgo ca doso ca, avijjā ca virājitā;

Khīṇāsavā arahanto, te namassāmi mātali.

‘‘Ye rāgadosavinayā, avijjāsamatikkamā;

Sekkhā apacayārāmā, appamattānusikkhare;

Te namassāmi mātalī’’ti.

‘‘Seṭṭhā hi kira lokasmiṃ, ye tvaṃ sakka namassasi;

Ahampi te namassāmi, ye namassasi vāsavā’’ti.

‘‘Idaṃ vatvāna maghavā, devarājā sujampati;

Bhagavantaṃ namassitvā, pamukho rathamāruhī’’ti.

9. Satthāravandanāsuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]

265. Navame bhagavantaṃ namassatīti ekaṃsaṃ uttariyaṃ dukulaṃ katvā, brahmajāṇuko hutvā sirasi añjaliṃ ṭhapetvā namassati. So yakkhoti so sakko. Anomanāmanti sabbaguṇehi omakabhāvassa natthitāya sabbaguṇanemittakehi nāmehi anomanāmaṃ. Avijjāsamatikkamāti catusaccapaṭicchādikāya vaṭṭamūlakaavijjāya samatikkamena. Sekkhāti satta sekkhā. Apacayārāmāti vaṭṭaviddhaṃsane ratā. Sikkhareti sikkhanti. Navamaṃ.