Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - Hạnh Phúc Và Đau Khổ - Kinh Người Ấy Vui Sướng (Nandatisuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - Hạnh Phúc Và Đau Khổ - Kinh Người Ấy Vui Sướng (Nandatisuttaṃ)

Wednesday, 23/02/2022, 12:58 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 23.2.2022


Hạnh Phúc Và Đau Khổ

Kinh Người Ấy Vui Sướng (Nandatisuttaṃ)

(CHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ NHẤT) (S.i, 107)

Thủ đắc cho người niềm hạnh phúc là mình có cái nầy có cái kia. Quyền sở hữu – và thủ đắc thật nhiều – cho con người cảm giác có được hạnh phúc được xem là tuyệt đối. Đức Phật dạy bất cứ ở đâu còn có ý niệm “đây là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi” là còn đau khổ. Giống như hai mặt của đồng tiền: sự sở hữu cái gì đó mang cả hai hạnh phúc và đau khổ. Hạnh phúc là cảm giác “mình có”. Đau khổ là sợ mất và khi bị mất thì đau khổ thật nhiều. Rất khó nhìn thấy được mặt trái của thứ hạnh phúc mà từ bản năng mỗi người cho đến quan niệm cả thế giới đều khao khát có được. Hạnh phúc đến tự sở y (hay sanh y) là thứ hạnh phúc có điều kiện. Tệ hại hơn là người ta chỉ khao khát có được nhưng không thấy được hệ luỵ đi kèm.


Evaṃ me sutaṃ –

Tôi được nghe như vầy:

ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.

Thuở ấy Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Kỳ Viên, ngôi già lam của ông Anāthapiṇḍika.

Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn nói với Ngài kệ ngôn:

‘‘Nandati puttehi puttimā,

gomā gobhi tatheva nandati;

Upadhīhi narassa nandanā,

na hi so nandati yo nirūpadhī’’ti.

Có con vui vì con,

Có bò vui vì bò,

sở y khiến người vui

Không sở y vui gì?

(Thế Tôn)

‘‘Socati puttehi puttimā,

gomā gobhi tatheva socati;

Upadhīhi narassa socanā,

na hi so socati yo nirūpadhī’’ti.

(Thế Tôn)

Có con sầu vì con,

Có bò sầu vì bò,

sở y khiến người sầu

Không sở y không sầu.

Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.

Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta" nên buồn và thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy.


‘‘Nandati puttehi puttimā

Người có con vui sướng với các con

gomā gobhi tatheva nandati Người có trâu bò vui với trâu bò
Upadhīhi narassa nandanā Sở y thật sự là hạnh phúc của con người
na hi so nandati yo nirūpadhī’’ti Không sở y chắng có gì là sung sướng
‘‘Socati puttehi puttimā Người có con cái khổ vì con cái
gomā gobhi tatheva socati Kẻ có trâu bò khổ vì trâu bò
Upadhīhi narassa socanā Sở y đúng là sầu khổ của nhân sinh
na hi so socati yo nirūpadhī’’ti Không sở y thì không sầu muộn

(Đây là một trong số rất ít bài kinh không có phụ chú của Sở giải vì hầu như tất cả đều rõ ràng).

Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

-ooOoo-

8. Nandatisuttaṃ [Mūla]

144. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi –

‘‘Nandati puttehi puttimā, gomā gobhi tatheva nandati;

Upadhīhi narassa nandanā, na hi so nandati yo nirūpadhī’’ti.

‘‘Socati puttehi puttimā, gomā gobhi tatheva socati;

Upadhīhi narassa socanā, na hi so socati yo nirūpadhī’’ti.

Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.

8. Nandatisuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]

144. Aṭṭhamaṃ devatāsaṃyutte vuttatthameva. Aṭṭhamaṃ.