Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || HAI GÓC NHÌN ĐẠI BI VÀ ĐẠI TRÍ - Kinh Upatissa (Upatissasuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || HAI GÓC NHÌN ĐẠI BI VÀ ĐẠI TRÍ - Kinh Upatissa (Upatissasuttaṃ)

Tuesday, 09/01/2024, 20:02 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 1.8.2024

HAI GÓC NHÌN ĐẠI BI VÀ ĐẠI TRÍ

Kinh Upatissa (Upatissasuttaṃ)

Tập II – Thiên Nhân Duyên

Chương X. Tương Ưng Tỷ Kheo (S.ii,274)

Không dễ dàng phàm nhân có thể cảm nhận cảnh giới của bậc thánh hoàn toàn giải thoát. Người ta thường thấy có sự đối chọi lớn giữa tình và lý, hoặc khó dung hợp giữa con tim và lý trí. Thế nhưng đối với bậc đạt đến chỗ tuệ giải thoát viên mãn, vẫn còn có sự hiện hữu của đại bi tâm. Mặc dù cảnh giới của tuệ giác là thế giới hiện tượng, không có cá thể dị biệt, trong lúc cảnh giới của đại bi tâm là chúng sanh vui khổ. Sự dung thông giữa bi và trí là một ảo diệu trong tâm thuật, dù ở cả hai phương diện chỉ và quán.

Kinh văn

Sāvatthiyaṃ viharati. Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi – ‘‘āvuso bhikkhave’’ti. ‘‘Āvuso’’ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṃ. Āyasmā sāriputto etadavoca –

Trú tại Sāvatthi.

Tại đấy Tôn giả Sāriputta gọi các tỳ khưu:

-- Này Chư Hiền Tỳ khưu.

Các tỳ khưu trả lời:

-- Dạ, Hiền giả.

Tôn giả Sāriputta nói như sau:

‘‘Idha mayhaṃ, āvuso, rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi – ‘atthi nu kho taṃ kiñci lokasmiṃ yassa me vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā’ti? Tassa mayhaṃ, āvuso, etadahosi – ‘natthi kho taṃ kiñci lokasmiṃ yassa me vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā’’’ti.

-- Này chư Hiền giả, ở đây trong khi độc cư tịnh mặc, tôi đã quán chiếu như sau: "Có cái gì trong đời này khi bị biến hoại, thay đổi có thể khiến ta sầu, bi, khổ, ưu, ai?".

Này chư Hiền giả, bấy giờ ý nghĩ khởi sanh nơi tôi như sau: "Không có cái gì trong đời này khi bị biến hoại, thay đổi có thể khiến ta sầu, bi, khổ, ưu, ai".

Evaṃ vutte, āyasmā ānando āyasmantaṃ sāriputtaṃ etadavoca – ‘‘satthupi kho te, āvuso sāriputta, vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā’’ti? ‘‘Satthupi kho me, āvuso, vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā, api ca me evamassa – ‘mahesakkho vata, bho, satthā antarahito mahiddhiko mahānubhāvo. Sace hi bhagavā ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭheyya tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussāna’nti. Tathā hi panāyasmato sāriputtassa dīgharattaṃ ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā susamūhatā. Tasmā āyasmato sāriputtassa satthupi vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā’’ti.

Khi điều này được nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với Tôn giả Sāriputta:

-- Này Hiền giả Sāriputta, ngay cả Bậc Ðạo Sư biến hoại, thay đổi cũng không thể khiến Hiền giả sầu, bi, khổ, ưu, ai?".

-- Này Hiền giả Ānanda, Bậc Ðạo Sư biến hoại, thay đổi không có thể khiến tôi sầu, bi, khổ, ưu, ai. Mặc dù vậy, tôi vẫn suy nghĩ: “Mong rằng Bậc Đạo Sư là bậc đại uy lực, đại thần thông, bậc đại oai đức đừng tịch diệt. Nếu Đức Thế Tôn vì lòng bi mẫn, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại trụ thế lâu dài, quả thật là đại hạnh cho quần sanh, là đại phúc cho quần sanh”.

-- Như vậy đối với Tôn giả Sāriputta, ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên được khéo đoạn tận từ lâu. Ngay cả Bậc Ðạo Sư biến hoại, thay đổi cũng không thể khiến Hiền giả sầu, bi, khổ, ưu, ai

Chú Thích

Upatissa là tên của Ngài Sāriputta (Xá Lợi Phất), bậc thượng thủ thinh văn đệ nhất trí tuệ của Đức Phật. Danh tánh quen thuộc Sāriputta có nghĩa là “con trai bà Sāri”, là cách gọi quen thuộc trong xã hội theo mẫu hệ. Trong bài kinh, không có gì liên hệ tới tên riêng của Tôn giả, chỉ là do đặt tên kinh đối xứng với bài kinh trước, khi dùng tên riêng của Tôn giả Mahāmoggallāna là tựa kinh.

Quán chiếu vạn pháp là vô thường, rỗng không là cái nhìn của đại trí. Nghĩ về an lạc và lợi ích của muôn loài, là cái nhìn của đại bi. Đối với trí tuệ giải thoát không có nhân ngã bỉ thử. Đối với tâm bi mẫn, lấy chúng sanh làm đối tượng. Tuy vậy, bi và trí vẫn hiện hữu trong tâm các bậc vô sanh ứng cúng.

Theo Sớ Giải thì khi Tôn giả Ānanda nói “Như vậy đối với Tôn giả Sāriputta, ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên được khéo đoạn tận từ lâu”, do biết rằng sau khi Tôn giả Sāriputta xuất gia bảy ngày đã chứng quả viên giác, khi nghe pháp thoại Đức Phật giảng cho du sĩ Dīghanakha.

Riêng đối với Tôn giả Ānanda, một bậc thánh sơ quả, cũng là thị giả chính thức của Đức Phật, khi nghĩ về sự viên tịch hay sự già nua của Bậc Đạo Sư vẫn xúc động mãnh liệt.

Tỳ khưu Giác Đẳng soạn dịch

2. Upatissasuttaṃ

236. Sāvatthiyaṃ viharati. Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi – ‘‘āvuso bhikkhave’’ti. ‘‘Āvuso’’ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṃ. Āyasmā sāriputto etadavoca –

‘‘Idha mayhaṃ, āvuso, rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi – ‘atthi nu kho taṃ kiñci lokasmiṃ yassa me vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā’ti? Tassa mayhaṃ, āvuso, etadahosi – ‘natthi kho taṃ kiñci lokasmiṃ yassa me vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā’’’ti.

Evaṃ vutte, āyasmā ānando āyasmantaṃ sāriputtaṃ etadavoca – ‘‘satthupi kho te, āvuso sāriputta, vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā’’ti? ‘‘Satthupi kho me, āvuso, vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā, api ca me evamassa – ‘mahesakkho vata, bho, satthā antarahito mahiddhiko mahānubhāvo. Sace hi bhagavā ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭheyya tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussāna’nti. Tathā hi panāyasmato sāriputtassa dīgharattaṃ ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā susamūhatā. Tasmā āyasmato sāriputtassa satthupi vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā’’ti. Dutiyaṃ.

2. Upatissasuttavaṇṇanā

236. Dutiye atthi nu kho taṃ kiñci lokasminti idaṃ atiuḷārampi sattaṃ vā saṅkhāraṃ vā sandhāya vuttaṃ. Satthupi khoti idaṃ yasmā ānandattherassa satthari adhimatto chando ca pemañca, tasmā ‘‘kiṃ nu kho imassa therassa satthu vipariṇāmenapi sokādayo nuppajjeyyu’’nti jānanatthaṃ pucchati? Dīgharattanti sūkarakhataleṇadvāre dīghanakhaparibbājakassa vedanāpariggahasuttantaṃ desitadivasato paṭṭhāya atikkantakālaṃ sandhāyāha. Tasmiñhi divase therassa ime vaṭṭānugatakilesā samūhatāti. Dutiyaṃ.