Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || DÙ HAY CHẮC GÌ KHÔNG VƯỚNG - Các bài kinh Từ số 168 đến 171

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || DÙ HAY CHẮC GÌ KHÔNG VƯỚNG - Các bài kinh Từ số 168 đến 171

Monday, 06/11/2023, 07:55 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 1.11.2023

DÙ HAY CHẮC GÌ KHÔNG VƯỚNG

Các bài kinh Từ số 168 đến 171

Tập II – Thiên Nhân Duyên

Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính – Phẩm Thứ Hai (S.ii,233)

Một loạt các bài kinh này mang ý nghĩa giống như bài kinh trước, số 167, với nội dung: Đức Phật dạy, với tha tâm thông và Phật nhãn, Ngài thấy nhiều trường hợp, những tu sĩ rất tốt với khả năng vượt qua những cám dỗ trong thời gian nào đó, nhưng sau này lại bị chi phối, đắm nhiễm bởi lợi lộc, vinh dự, danh tiếng. Những thứ này, ngoài khả năng ru êm bản ngã còn có hiệu ứng “mưa dầm thấm đất”, mà một người bất cẩn đánh mất giá trị cao quý bản thân vẫn không hay. Điều này giải thích một phần, tại sao có trường hợp tỳ khưu Devadatta đã chứng tới tứ thiền và có thần thông vậy mà vẫn bị lợi danh làm điên đảo.

Kinh văn

168. Kinh Rūpiyapāti (Rūpiyapātisuttaṃ)

Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘dāruṇo, bhikkhave, lābhasakkārasiloko...pe... idhāhaṃ, bhikkhave, ekaccaṃ puggalaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – ‘na cāyamāyasmā rūpiyapātiyāpi suvaṇṇacuṇṇaparipūrāya hetu sampajānamusā bhāseyyā’ti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena lābhasakkārasilokena abhibhūtaṃ pariyādiṇṇacittaṃ sampajānamusā bhāsantaṃ. Evaṃ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko...pe... evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabba’’nti.

... Ngự tại Sāvatthi.

-- Hỡi chư Tỳ khưu, thật đáng sợ là lợi lộc, vinh dự, danh tiếng. (Những điều ấy) thật cay đắng, độc hại, ngăn ngại sự chứng đạt vô thượng an ổn, để vượt thoát khổ đau.

Này chư Tỳ khưu, ở đây Ta với tâm của mình biết có người có tâm như sau: "Vị tu sĩ này cho dù để được một bình bát bạc đựng đầy vàng cũng không nói dối”. Tuy vậy, sau một thời gian vị ấy bị lợi lộc, vinh dự, danh tiếng chi phối, chiếm ngự lại cố ý nói dối.

Kinh Đồng Vàng nikkha (Suvaṇṇanikkhasuttaṃ)

Này chư Tỳ khưu, ở đây Ta với tâm của mình biết có người có tâm như sau: "Vị tu sĩ này cho dù để được một đồng vàng nikka cũng không nói dối”. …. dù để được một trăm đồng vàng nikka, dù để được một đồng vàng nikka .. dù để được một đồng vàng siṅginikka ….dù để được một trăm đồng vàng siṅginikka … dù để được mặt đất trãi đầy vàng … dù để được bổng lộc vật chất cả đời … dù để có được kiều nữ tại một phương xứ cũng không nói dối, thế tuy vậy, sau một thời gian, vị ấy bị lợi lộc, vinh dự, danh tiếng chi phối, chiếm ngự lại cố ý nói dối.

Hỡi chư Tỳ Khưu, thật đáng sợ là lợi lộc, vinh dự, danh vọng. (Những điều ấy) thật cay đắng, độc hại, ngăn ngại sự chứng đạt vô thượng an ổn, để vượt thoát khổ đau.

Do vậy, các Thầy cần tu tập như sau: Đối với lợi lộc, vinh dự, danh vọng đã có, chúng ta sẽ từ bỏ; đối với lợi lộc, vinh dự, danh vọng chưa có, chúng ta sẽ không để cho những thứ ấy chiếm ngự tâm ý”. Này chư Tỳ Khưu, hãy tu tập như vậy.

Chú Thích

Đồng vàng nikka và đồng vàng siṅginikka là những đơn vị tiền tệ có giá trị cao thời Đức Phật tại trung Ấn. Đồng vàng siṅginikka có giá trị cao hơn.

Kinh Phụ Nữ (Mātugāmasuttaṃ)

... Ngự tại Sāvatthi.

-- Hỡi chư Tỳ khưu, thật đáng sợ là lợi lộc, vinh dự, danh tiếng. (Những điều ấy) thật cay đắng, độc hại, ngăn ngại sự chứng đạt vô thượng an ổn, để vượt thoát khổ đau.

Thậm chí có người khi ở gần phụ nữ một mình, không bị chinh phục, đắm nhiễm, thì vẫn bị lợi lộc, vinh dự, danh tiếng chi phối, chiếm ngự.

Hỡi chư Tỳ Khưu, thật đáng sợ là lợi lộc, vinh dự, danh vọng. (Những điều ấy) thật cay đắng, độc hại, ngăn ngại sự chứng đạt vô thượng an ổn, để vượt thoát khổ đau.

Do vậy, các Thầy cần tu tập như sau: Đối với lợi lộc, vinh dự, danh vọng đã có, chúng ta sẽ từ bỏ; đối với lợi lộc, vinh dự, danh vọng chưa có, chúng ta sẽ không để cho những thứ ấy chiếm ngự tâm ý”. Này chư Tỳ Khưu, hãy tu tập như vậy.

Chú Thích

Trong bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu thì bài kinh này được dịch:

Với ai, này các Tỷ-kheo, tâm bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chinh phục và ngự trị, thời không một nữ nhân nào, với tâm của mình chinh phục và ngự trị tâm của người ấy. Ý nghĩa trong bản dịch này rất khác với chánh văn. Người đọc phải cẩn thận.

Chữ mātugāma chỉ cho phụ nữ có đầy đủ sự quyến rũ của một người từng trãi.

Kinh Kiều Nữ (Kalyāṇīsuttaṃ)

A black background with white text

Description automatically generated with low confidence

Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘dāruṇo, bhikkhave, lābhasakkārasiloko...pe... na tassa, bhikkhave, janapadakalyāṇī ekā ekassa cittaṃ pariyādāya tiṭṭhati yassa lābhasakkārasiloko cittaṃ pariyādāya tiṭṭhati. Evaṃ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko...pe... evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabba’’nti.

Thậm chí có người khi một mình, ở gần một hoa khôi của vùng miền không bị chinh phục, đắm nhiễm, thì vẫn bị lợi lộc, vinh dự, danh tiếng chi phối, chiếm ngự .

Hỡi chư Tỳ Khưu, thật đáng sợ là lợi lộc, vinh dự, danh vọng. (Những điều ấy) thật cay đắng, độc hại, ngăn ngại sự chứng đạt vô thượng an ổn, để vượt thoát khổ đau.

Do vậy, các Thầy cần tu tập như sau: Đối với lợi lộc, vinh dự, danh vọng đã có, chúng ta sẽ từ bỏ; đối với lợi lộc, vinh dự, danh vọng chưa có, chúng ta sẽ không để cho những thứ ấy chiếm ngự tâm ý”. Này chư Tỳ Khưu, hãy tu tập như vậy.

Chú Thích

Chữ janapadakalyāṇī có nghĩa là mỹ nhân tuyệt sắc trong một xứ, mang ý nghĩa như thành ngữ “thiên hạ đệ nhất mỹ nhân” trong chữ Hán.

Tỳ khưu Giác Đẳng soạn dịch

2. Rūpiyapātisuttaṃ

168. Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘dāruṇo, bhikkhave, lābhasakkārasiloko...pe... idhāhaṃ, bhikkhave, ekaccaṃ puggalaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – ‘na cāyamāyasmā rūpiyapātiyāpi suvaṇṇacuṇṇaparipūrāya hetu sampajānamusā bhāseyyā’ti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena lābhasakkārasilokena abhibhūtaṃ pariyādiṇṇacittaṃ sampajānamusā bhāsantaṃ. Evaṃ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko...pe... evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabba’’nti. Dutiyaṃ.

1-2. Suvaṇṇapātisuttādivaṇṇanā

167-168. Dutiyavaggassa paṭhame sampajānamusā bhāsantanti appamattakenapi kāraṇena sampajānameva musā bhāsantaṃ. ‘‘Sīlaṃ pūressāmī’’ti saṃvihitabhikkhuṃ sinerumattopi paccayarāsi cāletuṃ na sakkoti. Yadā pana sīlaṃ pahāya sakkāranissito hoti, tadā kuṇḍakamuṭṭhihetupi musā bhāsati, aññaṃ vā akiccaṃ karoti. Dutiyaṃ uttānamevāti. Paṭhamadutiyāni.