Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || CÓ CHÍ LỚN THÌ KHÔNG VƯỚNG VẤP CÁI TẦM THƯỜNG - Kinh Với Kệ Ngôn (Sagāthakasuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ || CÓ CHÍ LỚN THÌ KHÔNG VƯỚNG VẤP CÁI TẦM THƯỜNG - Kinh Với Kệ Ngôn (Sagāthakasuttaṃ)

Sunday, 29/10/2023, 05:49 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 28.10.2023

CÓ CHÍ LỚN THÌ KHÔNG VƯỚNG VẤP CÁI TẦM THƯỜNG

Kinh Với Kệ Ngôn (Sagāthakasuttaṃ)

Tập II – Thiên Nhân Duyên

Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính – Phẩm Thứ Nhất (S.ii,231)

Vinh dự làm thoả mãn thị dục huyễn ngã. Tập tính muôn thuở của chúng sanh, là thích ru êm trong cảm giác thấy mình quan trọng. Hệ luỵ ở chỗ là, chính sự bận lòng với vinh dự cũng khiến người ta bám víu với vinh dự và khổ sở khi không có vinh dự. Dù tâm bị chi phối bởi có hoặc không có, đều là ngăn ngại con đường tu tập và dẫn tới đoạ lạc. Lời khuyên của Đức Phật ở đây là phải có tầm nhìn xa: qua sự quán chiếu nhận rõ giá trị của vô sở đắc, vô thủ chấp tức niết bàn. Để rồi từ đó, bước tới trên hành trình giác ngộ giải thoát, trong trạng thái “nhẹ tênh gót hài”.

Kinh văn

Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘dāruṇo, bhikkhave, lābhasakkārasiloko...pe... adhigamāya. Idhāhaṃ, bhikkhave, ekaccaṃ puggalaṃ passāmi sakkārena abhibhūtaṃ pariyādiṇṇacittaṃ, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannaṃ. Idha panāhaṃ, bhikkhave, ekaccaṃ puggalaṃ passāmi asakkārena abhibhūtaṃ pariyādiṇṇacittaṃ, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannaṃ. Idha panāhaṃ, bhikkhave, ekaccaṃ puggalaṃ passāmi sakkārena ca asakkārena ca tadubhayena abhibhūtaṃ pariyādiṇṇacittaṃ, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannaṃ. Evaṃ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko...pe... evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabba’’nti.

... Ngự tại Sāvatthi.

-- Hỡi chư Tỳ khưu, thật đáng sợ là lợi lộc, vinh dự, danh tiếng. (Những điều ấy) thật cay đắng, độc hại, ngăn ngại sự chứng đạt vô thượng an ổn, để vượt thoát khổ đau.

Này chư Tỳ khưu, ở đây Ta thấy có những người mà tâm bị vinh dự chi phối, chiếm ngự sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ cảnh, đoạ xứ, địa ngục.

Ta cũng thấy có những người mà tâm bị thiếu kém vinh dự chi phối, chiếm ngự sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ cảnh, đoạ xứ, địa ngục.

Ta cũng thấy có những người mà tâm bị bởi cả hai vinh dự và sự thiếu kém vinh dự chi phối, chiếm ngự sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ cảnh, đoạ xứ, địa ngục.

Hỡi chư Tỳ Khưu, thật đáng sợ là lợi lộc, vinh dự, danh vọng. (Những điều ấy) thật cay đắng, độc hại, ngăn ngại sự chứng đạt vô thượng an ổn, để vượt thoát khổ đau.

Do vậy các Thầy cần tu tập như sau: Đối với lợi lộc, vinh dự, danh vọng đã có, chúng ta sẽ từ bỏ; đối với lợi lộc, vinh dự, danh vọng chưa có, chúng ta sẽ không để cho những thứ ấy chiếm ngự tâm ý”. Này chư Tỳ Khưu, hãy tu tập như vậy.

Idamavoca bhagavā. Idaṃ vatvāna sugato athāparaṃ etadavoca satthā –

‘‘Yassa sakkariyamānassa, asakkārena cūbhayaṃ;

Samādhi na vikampati, appamāṇavihārino.

‘‘Taṃ jhāyinaṃ sātatikaṃ, sukhumaṃ diṭṭhivipassakaṃ;

Upādānakkhayārāmaṃ, āhu sappuriso itī’’ti. dasamaṃ;

Sau khi dạy như vậy, Đấng Thiện Thệ nói thêm:

Dù có được trọng vọng

Hay không được trọng vọng

Tâm định không giao động

Trú trạng thái vô lượng

Thiền tư với kiên định

Thiền giả khéo chánh quán

Vui đoạn tận chấp thủ

Vị ấy là thượng nhân.

Chú Thích

Cả hai kệ ngôn này, cũng được tìm thấy trong Trưởng Lão Tăng Kệ và Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Th 1011-12 It 74,22-75,3) với phần chú giải có đôi chút sai biệt với chú giải của bản kinh này.

Theo Sớ Giải thì câu “trú trạng thái vô lượng” chỉ cho sự nhập thiền quả (appamāṇena phalasamādhinā viharantassa).

Có dị bản ở câu “sukhumaṃ diṭṭhivipassakaṃ”. Chánh tạng Tích Lan viết ghép chung lại “sukhumaṃdiṭṭhivipassakaṃ” thành một cụm từ tạo nên ý nghĩa hơi khác. Trong cách viết rời, được chú thích trong Trưởng Lão Tăng Kệ và Kinh Phật Thuyết Như Vậy, được hiểu là: “bậc thiền tư với tâm kiên định, với khả năng hồi quán cái nhìn của tự thân”. Nếu viết chung thành một, thì hàm nghĩa như bản Sớ Giải của bài kinh này có nghĩa là “thiền giả (vipassaka) luôn nhất hướng đạo quả giải thoát, nên không bận lòng lợi lộc, vinh dự”.

Theo Sớ Giải, câu “vui với sự đoạn tận chấp thủ” chỉ cho tâm hưóng cầu niết bàn là trạng thái không còn sở chấp.

Tỳ khưu Giác Đẳng soạn dịch

10. Sagāthakasuttaṃ

166. Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘dāruṇo, bhikkhave, lābhasakkārasiloko...pe... adhigamāya. Idhāhaṃ, bhikkhave, ekaccaṃ puggalaṃ passāmi sakkārena abhibhūtaṃ pariyādiṇṇacittaṃ, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannaṃ. Idha panāhaṃ, bhikkhave, ekaccaṃ puggalaṃ passāmi asakkārena abhibhūtaṃ pariyādiṇṇacittaṃ, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannaṃ. Idha panāhaṃ, bhikkhave, ekaccaṃ puggalaṃ passāmi sakkārena ca asakkārena ca tadubhayena abhibhūtaṃ pariyādiṇṇacittaṃ, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannaṃ. Evaṃ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko...pe... evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabba’’nti.

Idamavoca bhagavā. Idaṃ vatvāna sugato athāparaṃ etadavoca satthā –

‘‘Yassa sakkariyamānassa, asakkārena cūbhayaṃ;

Samādhi na vikampati, appamāṇavihārino [appamādavihārino (pī. ka.) appamāṇoti hettha phalasamādhi, na sati].

‘‘Taṃ jhāyinaṃ sātatikaṃ, sukhumaṃ diṭṭhivipassakaṃ;

Upādānakkhayārāmaṃ, āhu sappuriso itī’’ti. dasamaṃ;

10. Sagāthakasuttavaṇṇanā

166. Dasame asakkārena cūbhayanti asakkārena ca ubhayena. Samādhīti arahattaphalasamādhi. So hi tena na vikampati. Appamāṇavihārinoti appamāṇena phalasamādhinā viharantassa. Sātatikanti satatakāriṃ. Sukhumaṃdiṭṭhivipassakanti arahattamaggadiṭṭhiyā sukhumadiṭṭhiphalasamāpattiatthāya vipassanaṃ paṭṭhapetvā āgatattā vipassakaṃ. Upādānakkhayārāmanti upādānakkhayasaṅkhāte nibbāne rataṃ. Āhu sappuriso itīti sappurisoti kathentīti. Dasamaṃ.