Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - CẢNH GIỚI CỦA MA, CẢNH GIỚI CỦA PHẬT - Kinh Nông Phu (Kassakasutta)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - CẢNH GIỚI CỦA MA, CẢNH GIỚI CỦA PHẬT - Kinh Nông Phu (Kassakasutta)

Tuesday, 22/03/2022, 17:21 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 22.3.2022

 


CẢNH GIỚI CỦA MA, CẢNH GIỚI CỦA PHẬT

9. Kinh Nông Phu (Kassakasutta)

(CHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ HAI) (S.i, 114)

Phàm phu đối với căn, cảnh, thức thường đi với chấp thủ đây là ta hay của ta. Các bậc giác ngộ nhìn mọi hiện tượng theo thực tướng thì vạn pháp sanh diệt do duyên. Chấp ngã là mê tâm, là cảnh giới của ma. Nhìn sự vật như nhiên là giải thoát, vược khỏi ma giới. Đức Phật và các bậc thánh có thể dùng những từ ngữ như “các con của Như lai hay giáo pháp của Phật…” nhưng là cách nói theo ngôn ngữ thường thức. Đối với các bậc đã hoàn toàn giải thoát thì tất cả hiện tượng giới bao gồm sáu căn, sáu cảnh, sáu thức đều sanh diệt với riêng tự tánh; không có gì để gọi là của ta, là ta, là tự ngã của ta. Hiểu được chân lý ấy một cách rốt ráo là chứng ngộ niết bàn.


Sāvatthinidānaṃ. Tena kho pana samayena bhagavā bhikkhūnaṃ nibbānapaṭisaṃyuttāya dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṃseti. Te ca bhikkhū aṭṭhiṃ katvā manasi katvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasotā dhammaṃ suṇanti.

Tại Sāvatthi.

Lúc bấy giờ Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo. Ngài khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với đề tài về niết bàn. Chư tỳ kheo lắng nghe, chăm chú, suy nghiệm.

Atha kho mārassa pāpimato etadahosi – ‘‘ayaṃ kho samaṇo gotamo bhikkhūnaṃ nibbānapaṭisaṃyuttāya dhammiyā kathāya...pe... yaṃnūnāhaṃ yena samaṇo gotamo tenupasaṅkameyyaṃ vicakkhukammāyā’’ti.

Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo. Ngài khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với đề tài về niết bàn. Chư tỳ kheo lắng nghe, chăm chú, suy nghiệm. Ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ loạn các Tỷ-kheo ấy".

Atha kho māro pāpimā kassakavaṇṇaṃ abhinimminitvā mahantaṃ naṅgalaṃ khandhe karitvā dīghapācanayaṭṭhiṃ gahetvā haṭahaṭakeso sāṇasāṭinivattho kaddamamakkhitehi pādehi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ etadavoca –

Rồi Ác ma biến thành một nông phu, vác trên vai một cái cày lớn; tay cầm gậy chăn bò; tóc rối bù xù; áo quần lem luốc; chân lấm đầy bùn. Ác ma đi đến và nói với Đức Thế Tôn:

‘‘api, samaṇa, balībadde addasā’’ti?

-- Này Sa-môn, Ngài có thấy con bò đực không?

‘‘Kiṃ pana, pāpima, te balībaddehī’’ti?

-- Nhưng này Ác ma, con bò đực đối với ngươi là gì?

‘‘Mameva, samaṇa, cakkhu, mama rūpā, mama cakkhusamphassaviññāṇāyatanaṃ. Kuhiṃ me, samaṇa, gantvā mokkhasi?

-- Này Sa-môn, mắt là của ta, sắc là của ta, thức xứ do nhãn xúc là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta?

Mameva, samaṇa, sotaṃ, mama saddā...pe... mameva, samaṇa, ghānaṃ, mama gandhā; mameva, samaṇa, jivhā, mama rasā; mameva, samaṇa, kāyo, mama phoṭṭhabbā; mameva, samaṇa, mano, mama dhammā, mama manosamphassaviññāṇāyatanaṃ. Kuhiṃ me, samaṇa, gantvā mokkhasī’’ti?

Tai là của ta, tiếng là của ta...

Mũi là của ta, mùi là của ta...

Lưỡi là của ta, vị là của ta...

Thân là của ta, xúc là của ta...

Ý  là của ta, pháp là của ta, thức xứ do ý xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta không?

‘‘Taveva, pāpima, cakkhu, tava rūpā, tava cakkhusamphassaviññāṇāyatanaṃ. Yattha ca kho, pāpima, natthi cakkhu, natthi rūpā, natthi cakkhusamphassaviññāṇāyatanaṃ, agati tava tattha, pāpima.

Này Ác ma, mắt là của ngươi, sắc là của ngươi, thức xứ do nhãn xúc là của ngươi. Như vậy nầy Ác ma, chỗ nào không có mắt, không có sắc, không có thức xứ do nhãn xúc thời không có hành xứ của ngươi.

Taveva, pāpima, sotaṃ, tava saddā, tava sotasamphassaviññāṇāyatanaṃ. Yattha ca kho, pāpima, natthi sotaṃ, natthi saddā, natthi sotasamphassaviññāṇāyatanaṃ, agati tava tattha, pāpima.

Này Ác ma, tai là của ngươi, tiếng là của ngươi, thức xứ do nhĩ xúc là của ngươi. Như vậy nầy Ác ma, chỗ nào không có tai, không có tiếng, không có thức xứ do nhĩ xúc thời không có hành xứ của ngươi.

Taveva, pāpima, ghānaṃ, tava gandhā, tava ghānasamphassaviññāṇāyatanaṃ. Yattha ca kho, pāpima, natthi ghānaṃ, natthi gandhā, natthi ghānasamphassaviññāṇāyatanaṃ, agati tava tattha, pāpima.

Này Ác ma, mũi là của ngươi, mùi là của ngươi, thức xứ do tỷ xúc là của ngươi. Như vậy nầy Ác ma, chỗ nào không có mũi, không có mùi, không có thức xứ do tỷ xúc thời không có hành xứ của ngươi.

Taveva, pāpima, jivhā, tava rasā, tava jivhāsamphassaviññāṇāyatanaṃ...pe... taveva, pāpima, kāyo, tava phoṭṭhabbā, tava kāyasamphassaviññāṇāyatanaṃ...pe... taveva, pāpima, mano, tava dhammā, tava manosamphassaviññāṇāyatanaṃ.

Này Ác ma, lưỡi là của ngươi, vị là của ngươi, thức xứ do thiệt xúc là của ngươi. Như vậy nầy Ác ma, chỗ nào không có lưỡi, không có vị, không có thức xứ do thiệt xúc thời không có hành xứ của ngươi.

Này Ác ma, thân là của ngươi, cảnh xúc là của ngươi, thức xứ do thân xúc là của ngươi. Như vậy nầy Ác ma, chỗ nào không có thân, không có cảnh xúc, không có thức xứ do thân xúc thời không có hành xứ của ngươi.

Yattha ca kho, pāpima, natthi mano, natthi dhammā, natthi manosamphassaviññāṇāyatanaṃ, agati tava tattha, pāpimā’’ti.

Này Ác ma, ý là của ngươi, cảnh pháp là của ngươi, thức xứ do ý xúc là của ngươi. Như vậy nầy Ác ma, chỗ nào không có ý, không có cảnh pháp, không có thức xứ do ý xúc thời không có hành xứ của ngươi.

‘‘Yaṃ vadanti mama yidanti,

ye vadanti mamanti ca;

Ettha ce te mano atthi,

na me samaṇa mokkhasī’’ti.

Cái họ gọi “của tôi”

Và ai nói “của tôi”

Nếu tâm Ngài nghĩ thế

Chưa thoát ta, Sa môn!

(Thế Tôn)

‘‘Yaṃ vadanti na taṃ mayhaṃ,

ye vadanti na te ahaṃ;

Evaṃ pāpima jānāhi,

na me maggampi dakkhasī’’ti.

(Thế Tôn)

Cái họ gọi “của tôi”

Ta không là người nói

Hởi Ác ma nên biết

Đường ta người chẳng thấy.

Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.

Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta" nên buồn và thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy.


‘‘Yaṃ vadanti mama yidanti Cái gì họ gọi “đó của tôi”
ye vadanti mamanti ca Những ai nói “của tôi”
Ettha ce te mano atthi Nếu tâm người còn ý niệm ấy
na me samaṇa mokkhasī’’ti Thời vẫn chưa thoát khỏi ta, hỡi Sa Môn
‘‘Yaṃ vadanti na taṃ mayhaṃ Cái họ gọi đó là của tôi
ye vadanti na te ahaṃ Ta không phải là người nói vậy
Evaṃ pāpima jānāhi Ngươi nên biết như thế, hỡi Ác ma
na me maggampi dakkhasī’’ti Ngay cả đường ta đi ngươi cũng không thấy được

Theo Sớ giải cakkhusamphassaviññānạ̄yatana (thức xứ liên hệ tới nhãn xúc) chỉ cho “nhãn xúc liên hệ tới nhãn thức và thức xứ thuộc nhãn xúc (cakkhuviññāne_ na sampayutto cakkhusamphasso pi viññānạ̄yatanam pi). Nhãn xúc chỉ cho tất cả hiện tượng tâm ý liên hệ đến thị giác; thức xứ liên hệ tới thị giác chỉ cho tât cả hiện tượng sanh khởi quan nhãn môn. Ý nghĩa nầy cũng được áp dụng với thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác. Riêng đối với ý thì ý giới chỉ cho tiềm thức (bhavaṅgacitta) và ý thức giới hoạt thức xử lý (javanacitta) và hoạt thức dư hưởng (tadārammanacitta).

Câu trả lời của Ma và kệ ngôn kết thúc của Phật nói lên sự tương phản qua cái nhìn của chấp thủ và nhận thức chân tướng khách quan.

Bản Sớ giải cũng nói thêm là câu trả lời của Đức Phật đề cập đến niết bàn, nằm ngoài hiện tượng của 6 thức.

Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

-ooOoo-

9. Kassakasuttaṃ [Mūla]

155. Sāvatthinidānaṃ. Tena kho pana samayena bhagavā bhikkhūnaṃ nibbānapaṭisaṃyuttāya dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṃseti. Te ca bhikkhū aṭṭhiṃ katvā manasi katvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasotā dhammaṃ suṇanti.

Atha kho mārassa pāpimato etadahosi – ‘‘ayaṃ kho samaṇo gotamo bhikkhūnaṃ nibbānapaṭisaṃyuttāya dhammiyā kathāya...pe... yaṃnūnāhaṃ yena samaṇo gotamo tenupasaṅkameyyaṃ vicakkhukammāyā’’ti. Atha kho māro pāpimā kassakavaṇṇaṃ abhinimminitvā mahantaṃ naṅgalaṃ khandhe karitvā dīghapācanayaṭṭhiṃ gahetvā haṭahaṭakeso sāṇasāṭinivattho kaddamamakkhitehi pādehi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘api, samaṇa, balībadde addasā’’ti? ‘‘Kiṃ pana, pāpima, te balībaddehī’’ti? ‘‘Mameva, samaṇa, cakkhu, mama rūpā, mama cakkhusamphassaviññāṇāyatanaṃ. Kuhiṃ me, samaṇa, gantvā mokkhasi? Mameva, samaṇa, sotaṃ, mama saddā...pe... mameva, samaṇa, ghānaṃ, mama gandhā; mameva, samaṇa, jivhā, mama rasā; mameva, samaṇa, kāyo, mama phoṭṭhabbā; mameva, samaṇa, mano, mama dhammā, mama manosamphassaviññāṇāyatanaṃ. Kuhiṃ me, samaṇa, gantvā mokkhasī’’ti?

‘‘Taveva, pāpima, cakkhu, tava rūpā, tava cakkhusamphassaviññāṇāyatanaṃ. Yattha ca kho, pāpima, natthi cakkhu, natthi rūpā, natthi cakkhusamphassaviññāṇāyatanaṃ, agati tava tattha, pāpima. Taveva, pāpima, sotaṃ, tava saddā, tava sotasamphassaviññāṇāyatanaṃ. Yattha ca kho, pāpima, natthi sotaṃ, natthi saddā, natthi sotasamphassaviññāṇāyatanaṃ, agati tava tattha, pāpima. Taveva, pāpima, ghānaṃ, tava gandhā, tava ghānasamphassaviññāṇāyatanaṃ. Yattha ca kho, pāpima, natthi ghānaṃ, natthi gandhā, natthi ghānasamphassaviññāṇāyatanaṃ, agati tava tattha, pāpima. Taveva, pāpima, jivhā, tava rasā, tava jivhāsamphassaviññāṇāyatanaṃ...pe... taveva, pāpima, kāyo, tava phoṭṭhabbā, tava kāyasamphassaviññāṇāyatanaṃ...pe... taveva, pāpima, mano, tava dhammā, tava manosamphassaviññāṇāyatanaṃ. Yattha ca kho, pāpima, natthi mano, natthi dhammā, natthi manosamphassaviññāṇāyatanaṃ, agati tava tattha, pāpimā’’ti.

‘‘Yaṃ vadanti mama yidanti, ye vadanti mamanti ca;

Ettha ce te mano atthi, na me samaṇa mokkhasī’’ti.

‘‘Yaṃ vadanti na taṃ mayhaṃ, ye vadanti na te ahaṃ;

Evaṃ pāpima jānāhi, na me maggampi dakkhasī’’ti.

Atha kho māro pāpimā...pe... tatthevantaradhāyīti.

9. Kassakasuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]

155. Navame nibbānapaṭisaṃyuttāyāti nibbānaṃ apadisitvā pavattāya. Haṭahaṭakesoti purimakese pacchato, pacchimakese purato vāmapassakese dakkhiṇato, dakkhiṇapassakese vāmato pharitvā pharitvā vippakiṇṇakeso. Mama cakkhusamphassaviññāṇāyatananti cakkhuviññāṇena sampayutto cakkhusamphassopi viññāṇāyatanampi mamevāti. Ettha ca cakkhusamphassena viññāṇasampayuttakā dhammā gahitā, viññāṇāyatanena sabbānipi cakkhudvāre uppannāni āvajjanādiviññāṇāni. Sotadvārādīsupi eseva nayo. Manodvāre pana manoti sāvajjanakaṃ bhavaṅgacittaṃ. Dhammāti ārammaṇadhammā. Manosamphassoti sāvajjanena bhavaṅgena sampayuttaphasso. Viññāṇāyatananti javanacittaṃ tadārammaṇampi vaṭṭati.

Taveva pāpima, cakkhūti yaṃ loke timirakācādīhi upaddutaṃ anekarogāyatanaṃ upakkavipakkaṃ antamaso kāṇacakkhupi, sabbaṃ taṃ taveva bhavatu. Rūpādīsupi eseva nayo.

Yaṃ vadantīti yaṃ bhaṇḍakaṃ ‘‘mama ida’’nti vadanti. Ye vadanti mamanti cāti ye ca puggalā ‘‘mama’’nti vadanti. Ettha ce te mano atthīti etesu ca ṭhānesu yadi cittaṃ atthi. Na me samaṇamokkhasīti samaṇa mayhaṃ visayato na muccissasi. Yaṃ vadantīti yaṃ bhaṇḍakaṃ vadanti, na taṃ mayhaṃ. Ye vadantīti yepi puggalā evaṃ vadanti, na te ahaṃ. Na me maggampi dakkhasīti bhavayonigatiādīsu mayhaṃ gatamaggampi na passasi. Navamaṃ.