Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - Cạm Bẫy Tinh Diệu Của Ma - Kinh Tâm Ý (Mānasasuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - Cạm Bẫy Tinh Diệu Của Ma - Kinh Tâm Ý (Mānasasuttaṃ)

Wednesday, 09/03/2022, 15:32 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 9.3.2022


Cạm Bẫy Tinh Diệu Của Ma

Kinh Tâm Ý (Mānasasuttaṃ)

(CHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ HAI) (S.i, 112)

Kinh điển ghi nhận nhiều trường hợp một người đã chứng thiền định và thần thông vẫn bị hoại thiền và mất thần thông vì mục kích cảnh tượng gợi sắc dục hay sự đam mê danh lợi. Năm dục trưởng dưỡng không phải chỉ chi phối tâm thức bằng ảnh hưởng trực tiếp mà còn do tập khí nhiều đời hay liên hệ tới ngã chấp. Ác ma biết Đức Phật là bậc đạt đến cảnh giới cao vợi của thiền định nhưng vẫn còn chút hy vọng đánh bại Đức Thế Tôn với bản năng tham luyến dục lạc muôn thuở của chúng sanh. Đức Phật đã trả lời thẳng là tự tâm Ngài tất cả ái dục đã đoạn tận. Bật Đại Giác là vậy. Cảnh giới của giải thoát viên mãn là vậy. Đối với phàm nhân chưa đoạn tận kiết sử là câu chuyện hoàn toàn khác. Người trí không thể không ý thức hiểm hoạ cạm bẫy khôn lường của Ma.

Cạm Bẫy Tinh Diệu Của Ma - Kinh Tâm Ý (Mānasasuttaṃ)

Evaṃ me sutaṃ –

Tôi được nghe như vầy:

Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.

Thuở ấy Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Kỳ Viên, ngôi già lam của ông Anāthapiṇḍika.

Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi

Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn nói với Ngài kệ ngôn:

‘‘Antalikkhacaro pāso,

yvāyaṃ carati mānaso;

Tena taṃ bādhayissāmi,

na me samaṇa mokkhasī’’ti.

Có bẫy sập thái hư

Tâm ý vẫn ra vào

Phương tiện ấy bắt người

Không thoát đâu, Sa Môn!

(Thế Tôn)

‘‘Rūpā saddā rasā gandhā,

phoṭṭhabbā ca manoramā;

Ettha me vigato chando,

nihato tvamasi antakā’’ti.

(Thế Tôn)

Sắc, thinh, hương, vị, xúc

Pháp khiến tâm ưa thích

Ta chẳng còn ham muốn

Thần chết! ngươi đã bại

Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.

Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta" nên buồn và thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy.

‘‘Antalikkhacaro pāso yvāyaṃ carati mānaso Có bẫy sập vận hành trên hư không mà tâm ý vẫn lui tới (….)
Tena taṃ bādhayissāmi Ta sẽ trói buộc ngươi với cái ấy
na me samaṇa mokkhasī’’ti Ngươi sẽ không thoát khỏi hỡi vị sa môn
‘‘Rūpā saddā rasā gandhā phoṭṭhabbā ca manoramā Sắc, thinh, vị, hương và xúc khả ý, khả lạc
Ettha me vigato chando Ham muốn đã đoạn tận nơi ta
nihato tvamasi antakā’’ti Ngươi đã bại rồi, hỡi Thần Huỷ Diệt

Câu “Antalikkhacaro pāso yvāyaṃ carati mānaso” theo Sớ giải chỉ cho bẫy sập của dục vọng (rāgapāsa) có thể cột trói ngay cả những người có thể phi hành trên không (chứng thiền và thần thông).

Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

-ooOoo-

5. Mānasasuttaṃ [Mūla]

151. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

‘‘Antalikkhacaro pāso, yvāyaṃ carati mānaso;

Tena taṃ bādhayissāmi, na me samaṇa mokkhasī’’ti.

‘‘Rūpā saddā rasā gandhā, phoṭṭhabbā ca manoramā;

Ettha me vigato chando, nihato tvamasi antakā’’ti.

Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.

5. Mānasasuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]

151. Pañcame ākāse carantepi bandhatīti antalikkhacaro. Pāsoti rāgapāso. Mānasoti manasampayutto. Pañcamaṃ.