Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - BIẾT LẮNG NGHE QUAN TRỌNG NHƯ ĐIỀU ĐƯỢC NÓI - Kinh Paccanīka (Paccanīkasuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ - BIẾT LẮNG NGHE QUAN TRỌNG NHƯ ĐIỀU ĐƯỢC NÓI - Kinh Paccanīka (Paccanīkasuttaṃ)

, 23/07/2022, 18:39 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 23.7.2022


BIẾT LẮNG NGHE QUAN TRỌNG NHƯ ĐIỀU ĐƯỢC NÓI

Kinh Paccanīka (Paccanīkasuttaṃ)

CHƯƠNG VII. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN – PHẨM CƯ SĨ (S. I, 179)

Nói đến những ý nghĩa thâm sâu trong cuộc sống người ta thường nghĩ đến sự cao siêu hay tầm thường nằm ở những gì được nói. Sự thật là đó chỉ là một phần của sự lãnh hội. Phần kia chính là khả năng lắng nghe. Nghe với sự chân thành, cầu học, thanh thản thì một chiếc lá vàng rơi cũng làm bừng dậy tuệ giác. Trái lại, nếu tâm đầy phiền não cho dù đọc cả ngàn câu kệ lời hay ý đẹp cũng vô nghĩa. Điều nầy giống như câu nói: người biết đọc sách cũng quan trọng như người viết sách.

Sāvatthinidānaṃ. Tena kho pana samayena paccanīkasāto nāma brāhmaṇo sāvatthiyaṃ paṭivasati. Atha kho paccanīkasātassa brāhmaṇassa etadahosi – ‘‘yaṃnūnāhaṃ yena samaṇo gotamo tenupasaṅkameyyaṃ. Yaṃ yadeva samaṇo gotamo bhāsissati taṃ tadevassāhaṃ [tadeva sāhaṃ (ka.)] paccanīkāssa’’nti [paccanīkassanti (pī.), paccanīkasātanti (ka.)].

Tại Sāvatthi.

Thuở ấy có bà la môn Paccanīkasāta, Người Thích Nói Ngược, sống tại Sāvatthi.

Ngày kia ba là môn Paccanīkasāta có ý nghĩ như sau: "Mình hãy đi đến Sa môn Gotama, và Sa môn Gotama nói bất cứ điều gì ta sẽ nói ngược lại".

Tena kho pana samayena bhagavā abbhokāse caṅkamati. Atha kho paccanīkasāto brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ caṅkamantaṃ etadavoca – ‘bhaṇa samaṇadhamma’nti.

Lúc ấy Đức Thế Tôn đang đi kinh hành ngoài trời. Rồi bà la môn Paccanīkasāta đi đến và nói với Đức Thế Tôn:

-- Này Sa môn, hãy nói pháp.

(Thế Tôn):

‘‘Na paccanīkasātena, suvijānaṃ subhāsitaṃ;

Upakkiliṭṭhacittena, sārambhabahulena ca.

‘‘Yo ca vineyya sārambhaṃ, appasādañca cetaso;

Āghātaṃ paṭinissajja, sa ve jaññā subhāsita’’nti.

“Pháp thiện thuyết khó hiểu

Với người ưa nói ngược

Với ai tâm uế nhiệm

Luôn tìm cách sanh sự.

“Với ai không hiếu chiến,

Không giận ghét trong tâm

Từ bỏ mọi hiềm hận

Có khả năng hiểu pháp.

Evaṃ vutte, paccanīkasāto brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘abhikkantaṃ, bho gotama, abhikkantaṃ, bho gotama...pe... upāsakaṃ maṃ bhavaṃ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gata’’nti.

Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Paccanīkasāta bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Diệu Pháp được Tôn giả Gotama hiển bày như người dựng đứng những gì bị ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, hay đem đèn sáng vào chỗ tăm tối để những ai có mắt thấy được. Con xin nương tựa Đức Thế Tôn Gotama, xin nương tựa Pháp, xin nương tựa tỳ khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

(Bổ túc sau)

Biệt danh Paccanīkasāta được người đời gọi vì ông bà la môn nầy có cố tật thường nói ngược lại những gì người khác nói.

Trong kệ ngôn của Đức Phật mang phong cách “nói pháp như không nói pháp”, điều nầy có tác dụng khai thị con người vốn thích nói vặn ngược người khác.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

6. Paccanīkasuttaṃ [Mūla]

202. Sāvatthinidānaṃ. Tena kho pana samayena paccanīkasāto nāma brāhmaṇo sāvatthiyaṃ paṭivasati. Atha kho paccanīkasātassa brāhmaṇassa etadahosi – ‘‘yaṃnūnāhaṃ yena samaṇo gotamo tenupasaṅkameyyaṃ. Yaṃ yadeva samaṇo gotamo bhāsissati taṃ tadevassāhaṃ [tadeva sāhaṃ (ka.)] paccanīkāssa’’nti [paccanīkassanti (pī.), paccanīkasātanti (ka.)]. Tena kho pana samayena bhagavā abbhokāse caṅkamati. Atha kho paccanīkasāto brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ caṅkamantaṃ etadavoca – ‘bhaṇa samaṇadhamma’nti.

‘‘Na paccanīkasātena, suvijānaṃ subhāsitaṃ;

Upakkiliṭṭhacittena, sārambhabahulena ca.

‘‘Yo ca vineyya sārambhaṃ, appasādañca cetaso;

Āghātaṃ paṭinissajja, sa ve [sace (syā. kaṃ. ka.)] jaññā subhāsita’’nti.

Evaṃ vutte, paccanīkasāto brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘abhikkantaṃ, bho gotama, abhikkantaṃ, bho gotama...pe... upāsakaṃ maṃ bhavaṃ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gata’’nti.

6. Paccanīkasuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]

202. Chaṭṭhe ‘‘sabbaṃ seta’’nti vutte ‘‘sabbaṃ kaṇha’’ntiādinā nayena paccanīkaṃ karontassevassa sātaṃ sukhaṃ hotīti paccanīkasāto. Yo ca vineyya sārambhanti yo karaṇuttariyalakkhaṇaṃ sārambhaṃ vinetvā suṇātīti attho. Chaṭṭhaṃ.