Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ | AI LÀ NGƯỜI THOÁT VÒNG LẨN QUẨN ? Kinh Người Khôn, Kẻ Dại (Bālapaṇḍitasuttaṃ)

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ | AI LÀ NGƯỜI THOÁT VÒNG LẨN QUẨN ? Kinh Người Khôn, Kẻ Dại (Bālapaṇḍitasuttaṃ)

Tuesday, 14/02/2023, 21:28 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 14.2.2023

AI LÀ NGƯỜI THOÁT VÒNG LẨN QUẨN?

Kinh Người Khôn, Kẻ Dại (Bālapaṇḍitasuttaṃ)

Tập II – Thiên Nhân Duyên

Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm Đồ Ăn (S. ii, 23)

 

DẪN NHẬP

Người ta thường nói không cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống. Đức Phật dạy: Người khôn cũng khổ, người dại cũng khổ, nhưng người khôn biết hướng cầu thoát khổ. Cuộc trầm luân là vòng lẩn quẩn như người đi lạc trong rừng vừa bị vô minh làm mê tối và ái dục khiến vướng mắc. Phải có lập trường kiên quyết vượt thoát mới khởi sự hành trình ra khỏi khổ đau. Cái khôn, cái dại giữa cuộc trầm thuân vốn không thể quan niệm như thường tình.

 

KINH VĂN

Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘avijjānīvaraṇassa, bhikkhave, bālassa taṇhāya sampayuttassa evamayaṃ kāyo samudāgato. Iti ayañceva kāyo bahiddhā ca nāmarūpaṃ, itthetaṃ dvayaṃ, dvayaṃ paṭicca phasso saḷevāyatanāni [saḷāyatanāni (ka.)], yehi phuṭṭho bālo sukhadukkhaṃ paṭisaṃvedayati etesaṃ vā aññatarena’’.

Ngự tại Sāvatthi

Này chư Tỳ khưu, đối với người ngu, thân nầy tập khởi do vô minh che đậy và ái dục cột trói. Sự hiện hữu của thân nầy và danh sắc bên ngoài như vậy là một bộ song. Do duyên bộ song nầy có xúc. Do xúc từ lục nhập – hay từ một trong những sáu xứ - người ngu cảm thọ lạc, khổ.

‘‘Avijjānīvaraṇassa, bhikkhave, paṇḍitassa taṇhāya sampayuttassa evamayaṃ kāyo samudāgato. Iti ayañceva kāyo bahiddhā ca nāmarūpaṃ, itthetaṃ dvayaṃ, dvayaṃ paṭicca phasso saḷevāyatanāni, yehi phuṭṭho paṇḍito sukhadukkhaṃ paṭisaṃvedayati etesaṃ vā aññatarena’’.

Này chư Tỳ khưu, đối với người trí, thân nầy tập khởi do vô minh che đậy và ái dục cột trói. Sự hiện hữu của thân nầy và danh sắc bên ngoài như vậy là một bộ song. Do duyên bộ song nầy có xúc. Do xúc từ lục nhập – hay từ một trong những sáu xứ - người trí cảm thọ lạc, khổ.

‘‘Tatra, bhikkhave, ko viseso ko adhippayāso, adhippāyaso kiṃ nānākaraṇaṃ paṇḍitassa bālenā’’ti? ‘‘Bhagavaṃmūlakā no, bhante, dhammā, bhagavaṃnettikā, bhagavaṃpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṃyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī’’ti.

Này chư Tỳ khưu, thế thì có gì sai khác, có gì phân biệt, có gì không tương đồng người trí và kẻ ngu?

-- Bạch Đức Thế Tôn, đối với chúng con, luôn y chỉ và tìm sự hướng dẫn ở Đức Thế Tôn. Thật tốt lành thay, Đức Thế Tôn giảng giải ý nghĩa để chúng tỳ khưu được nghe rồi thọ trì.

‘‘Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṃ manasi karotha, bhāsissāmī’’ti. ‘‘Evaṃ, bhante’’ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –

-- Vậy này chư Tỳ khưu, hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Chư Tỳ khưu trả lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như sau:

‘‘Yāya ca, bhikkhave, avijjāya nivutassa bālassa yāya ca taṇhāya sampayuttassa ayaṃ kāyo samudāgato, sā ceva avijjā bālassa appahīnā sā ca taṇhā aparikkhīṇā. Taṃ kissa hetu? Na, bhikkhave, bālo acari brahmacariyaṃ sammā dukkhakkhayāya. Tasmā bālo kāyassa bhedā kāyūpago hoti, so kāyūpago samāno na parimuccati jātiyā jarāmaraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. Na parimuccati dukkhasmāti vadāmi.

Này chư Tỳ khưu, đối với người ngu, thân nầy tập khởi do vô minh che đậy và ái dục buộc ràng nhưng vô minh không được tù bỏ và ái không được đoạn diệt. Tại sao vậy? vì người ngu không sống phạm hạnh vì mục đích đoạn tận khổ đau. Do vậy sau khi thân nầy mệnh chung lại sanh làm thân khác. Với thân khác, người ấy không thoát khỏi sanh, già, chết; không thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, ai. Ta nói rằng người ấy không thoát khỏi khổ đau.

‘‘Yāya ca, bhikkhave, avijjāya nivutassa paṇḍitassa yāya ca taṇhāya sampayuttassa ayaṃ kāyo samudāgato, sā ceva avijjā paṇḍitassa pahīnā, sā ca taṇhā parikkhīṇā. Taṃ kissa hetu? Acari, bhikkhave, paṇḍito brahmacariyaṃ sammā dukkhakkhayāya. Tasmā paṇḍito kāyassa bhedā na kāyūpago hoti. So akāyūpago samāno parimuccati jātiyā jarāmaraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. Parimuccati dukkhasmāti vadāmi. Ayaṃ kho, bhikkhave, viseso, ayaṃ adhippayāso, idaṃ nānākaraṇaṃ paṇḍitassa bālena yadidaṃ brahmacariyavāso’’ti. Navamaṃ.

Này chư Tỳ khưu, đối với người trí, thân nầy tập khởi do vô minh che đậy và ái dục buộc ràng nhưng vô minh được tù bỏ và ái được đoạn diệt. Tại sao vậy? vì người trí sống phạm hạnh vì mục đích đoạn tận khổ đau. Do vậy sau khi thân nầy mệnh chung không sanh làm thân khác. Không sanh thân khác, người ấy thoát khỏi sanh, già, chết; thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, ai. Ta nói rằng người ấy vượt thoát khỏi khổ đau.

Này chư Tỳ khưu, đây là sự sai khác, đây là sự phân biệt, đây là sự không tương đồng người trí và kẻ ngu

Chú Thích

Vô minh ngăn che (avijjānīvaraṇa), ái dục cột trói (taṇhāya sampayutta) chỉ cho hai các tác động của vô minh và ái. Đây là hai thứ phiền não chủ đạo đưa đến tạo tác (nghiệp) và tạo nên sự hiện hữu của tất cả chúng sanh (quả).

Thân nầy từ đấy tập khởi (evam ayaṃ kāyo samudāgato). Chữ thân (kāya) ở đây nên hiểu là cả hai danh sắc chứ không phải chỉ riêng thân xác. (Sanh, già, chết; sầu, bi, khổ, ưu, ai là sự khổ của cả hai thân xác và tâm thức).

Thân nầy và danh sắc ngọai tại (ayañceva kāyo bahiddhā ca nāmarūpaṃ) là năm uẩn của bản thân và năm uẩn của chúng sanh khác. Cụm từ “danh sắc ngoại tại” chỉ cho chúng sanh khác được xem là cái diển đạt ít có trong kinh văn. Một cách hiểu khác là “thân nầy” chỉ cho sáu nội xứ và “danh sắc ngoại tại” chỉ cho sáu ngoại xứ như câu “imasmiṃ saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu - Đối với tâm thức của thân nầy và tất cả hiện tướng bên ngoài”.

Một cặp bài trùng (dvaya) (rất thú vị từ nầy được viết trong Anh ngữ là dyat) theo Sớ giải chỉ cho sáu nội xứ và sáu ngoại xứ. Hai thứ gọi chung là Bộ Đôi Lớn (mahādvaya)

Bài kinh ngắn nầy là một cơ sở quan trọng để giải thích duyên khởi theo tam sinh (kiếp quá khứ, kiếp hiện tại, và kiếp tương lai). Từ đây mười hai nhân duyên được chi thành bốn nhóm (catusaṅkhepa): nhân quá khứ (vô minh, hành), quả hiện tại (thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ), nhân hiện tại (ái, thủ, hữu), quả vị lai (sanh, lão tử). Đây là cách lý giải nền tảng trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga).

Nên lưu ý là cả hai cách giải duyên khởi (tam sinh và hiện kiếp) đều có cơ sở trong Kinh Tạng và Thắng Pháp Tạng. Không nên viện dẫn cách nầy để phủ bác cách kia.

Từ giáo lý duyên khởi, Đức Phật nhấn mạnh mục đích chân thực của đời sống phạm hạnh là đoạn tận khổ đau. Và cái nhìn nầy tạo nên sự khác biệt giữa người trí và kẻ ngu trong ý nghĩa sâu xa nhất: vượt thoát vòng lẩn quẩn khổ đau mới thật là người trí.

Tỳ khưu Giác Đẳng soạn dịch

9. Bālapaṇḍitasuttaṃ

19. Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘avijjānīvaraṇassa, bhikkhave, bālassa taṇhāya sampayuttassa evamayaṃ kāyo samudāgato. Iti ayañceva kāyo bahiddhā ca nāmarūpaṃ, itthetaṃ dvayaṃ, dvayaṃ paṭicca phasso saḷevāyatanāni [saḷāyatanāni (ka.)], yehi phuṭṭho bālo sukhadukkhaṃ paṭisaṃvedayati etesaṃ vā aññatarena’’.

‘‘Avijjānīvaraṇassa, bhikkhave, paṇḍitassa taṇhāya sampayuttassa evamayaṃ kāyo samudāgato. Iti ayañceva kāyo bahiddhā ca nāmarūpaṃ, itthetaṃ dvayaṃ, dvayaṃ paṭicca phasso saḷevāyatanāni, yehi phuṭṭho paṇḍito sukhadukkhaṃ paṭisaṃvedayati etesaṃ vā aññatarena’’.

‘‘Tatra, bhikkhave, ko viseso ko adhippayāso [adhippāyo (sī. pī. ka.), adhippāyaso (syā. kaṃ.) adhi + pa + yasu + ṇa + sī = adhippayāso] kiṃ nānākaraṇaṃ paṇḍitassa bālenā’’ti? ‘‘Bhagavaṃmūlakā no, bhante, dhammā, bhagavaṃnettikā, bhagavaṃpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṃyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī’’ti.

‘‘Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṃ manasi karotha, bhāsissāmī’’ti. ‘‘Evaṃ, bhante’’ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –

‘‘Yāya ca, bhikkhave, avijjāya nivutassa bālassa yāya ca taṇhāya sampayuttassa ayaṃ kāyo samudāgato, sā ceva avijjā bālassa appahīnā sā ca taṇhā aparikkhīṇā. Taṃ kissa hetu? Na, bhikkhave, bālo acari brahmacariyaṃ sammā dukkhakkhayāya. Tasmā bālo kāyassa bhedā kāyūpago hoti, so kāyūpago samāno na parimuccati jātiyā jarāmaraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. Na parimuccati dukkhasmāti vadāmi.

‘‘Yāya ca, bhikkhave, avijjāya nivutassa paṇḍitassa yāya ca taṇhāya sampayuttassa ayaṃ kāyo samudāgato, sā ceva avijjā paṇḍitassa pahīnā, sā ca taṇhā parikkhīṇā. Taṃ kissa hetu? Acari, bhikkhave, paṇḍito brahmacariyaṃ sammā dukkhakkhayāya. Tasmā paṇḍito kāyassa bhedā na kāyūpago hoti. So akāyūpago samāno parimuccati jātiyā jarāmaraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. Parimuccati dukkhasmāti vadāmi. Ayaṃ kho, bhikkhave, viseso, ayaṃ adhippayāso, idaṃ nānākaraṇaṃ paṇḍitassa bālena yadidaṃ brahmacariyavāso’’ti. Navamaṃ.

9. Bālapaṇḍitasuttavaṇṇanā

19. Navame avijjānīvaraṇassāti avijjāya nivāritassa. Evamayaṃ kāyo samudāgatoti evaṃ avijjāya nivāritattā taṇhāya ca sampayuttattāyeva ayaṃ kāyo nibbatto. Ayañceva kāyoti ayañcassa attano saviññāṇako kāyo. Bahiddhā ca nāmarūpanti bahiddhā ca paresaṃ saviññāṇako kāyo. Attano ca parassa ca pañcahi khandhehi chahi āyatanehi cāpi ayaṃ attho dīpetabbova. Itthetaṃ dvayanti evametaṃ dvayaṃ. Dvayaṃ paṭicca phassoti aññattha cakkhurūpādīni dvayāni paṭicca cakkhusamphassādayo vuttā, idha pana ajjhattikabāhirāni āyatanāni. Mahādvayaṃ nāma kiretaṃ. Saḷevāyatanānīti saḷeva phassāyatanāni phassakāraṇāni. Yehi phuṭṭhoti yehi kāraṇabhūtehi āyatanehi uppannena phassena phuṭṭho. Aññatarenāti ettha paripuṇṇavasena aññataratā veditabbā. Tatrāti tasmiṃ bālapaṇḍitānaṃ kāyanibbattanādimhi. Ko adhippayāsoti ko adhikapayogo.

Bhagavaṃmūlakāti bhagavā mūlaṃ etesanti bhagavaṃmūlakā. Idaṃ vuttaṃ hoti – ime, bhante, amhākaṃ dhammā pubbe kassapasammāsambuddhena uppāditā, tasmiṃ parinibbute ekaṃ buddhantaraṃ añño samaṇo vā brāhmaṇo vā ime dhamme uppādetuṃ samattho nāma nāhosi, bhagavatā pana no ime dhammā uppāditā. Bhagavantañhi nissāya mayaṃ ime dhamme ājānāma paṭivijjhāmāti evaṃ bhagavaṃmūlakā no, bhante, dhammāti. Bhagavaṃnettikāti bhagavā hi dhammānaṃ netā vinetā anunetā, yathāsabhāvato pāṭiyekkaṃ pāṭiyekkaṃ nāmaṃ gahetvā dassetāti dhammā bhagavaṃnettikā nāma honti. Bhagavaṃpaṭisaraṇāti catubhūmakadhammā sabbaññutaññāṇassa āpāthaṃ āgacchamānā bhagavati paṭisaranti nāmāti bhagavaṃpaṭisaraṇā. Paṭisarantīti samosaranti. Apica mahābodhimaṇḍe nisinnassa bhagavato paṭivedhavasena phasso āgacchati ‘‘ahaṃ bhagavā kinnāmo’’ti? Tvaṃ phusanaṭṭhena phasso nāma. Vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇaṃ āgacchati ‘‘ahaṃ bhagavā kinnāma’’nti, tvaṃ vijānanaṭṭhena viññāṇaṃ nāmāti evaṃ catubhūmakadhammānaṃ yathāsabhāvato pāṭiyekkaṃ pāṭiyekkaṃ nāmaṃ gaṇhanto bhagavā dhamme paṭisaratīti bhagavaṃpaṭisaraṇā. Bhagavantaṃyeva paṭibhātūti bhagavatova etassa bhāsitassa attho upaṭṭhātu, tumheyeva no kathetvā dethāti attho.

Sā ceva avijjāti ettha kiñcāpi sā avijjā ca taṇhā ca kammaṃ javāpetvā paṭisandhiṃ ākaḍḍhitvā niruddhā, yathā pana ajjāpi yaṃ hiyyo bhesajjaṃ pītaṃ, tadeva bhojanaṃ bhuñjāti sarikkhakattena tadevāti vuccati, evamidhāpi sā ceva avijjā sā ca taṇhāti idampi sarikkhakattena vuttaṃ. Brahmacariyanti maggabrahmacariyaṃ. Dukkhakkhayāyāti vaṭṭadukkhassa khayatthāya. Kāyūpago hotīti aññaṃ paṭisandhikāyaṃ upagantā hoti. Yadidaṃ brahmacariyavāsoti yo ayaṃ maggabrahmacariyavāso, ayaṃ bālato paṇḍitassa visesoti dasseti. Iti imasmiṃ sutte sabbopi sapaṭisandhiko puthujjano ‘‘bālo’’ti, appaṭisandhiko khīṇāsavo ‘‘paṇḍito’’ti vutto. Sotāpannasakadāgāmianāgāmino pana ‘‘paṇḍitā’’ti vā ‘‘bālā’’ti vā na vattabbā, bhajamānā pana paṇḍitapakkhaṃ bhajanti. Navamaṃ.