CHẤM DỨT GIÒNG SANH TỬ _ Kinh Nước Chảy (Sarasuttaṃ) _ CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM KIẾM (S.i.15) _ Giáo trình TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA _ Bài học ngày 4.6.2021

CHẤM DỨT GIÒNG SANH TỬ _ Kinh Nước Chảy (Sarasuttaṃ) _ CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM KIẾM (S.i.15) _ Giáo trình TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA _ Bài học ngày 4.6.2021

Friday, 04/06/2021, 15:13 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Giáo trình TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 4.6.2021


CHẤM DỨT GIÒNG SANH TỬ

Kinh Nước Chảy (Sarasuttaṃ)

CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM KIẾM (S.i.15)

Hai đặc tính của kiếp trầm luân là cuốn phăng theo giòng chảy và sự lẩn quẩn xoay tròn như vô tận. Danh sắc hay năm uẩn vốn mang theo bao điều hệ luỵ. Trong khổ đau muôn thuở đôi khi chúng sanh cũng nghĩ về một cảnh giới thật bình an. Một trong những yếu tính của giải thoát là hoàn toàn vượt khỏi chi phối của ngũ dục, của vật chất. Nói sâu xa hơn bốn đại chủng căn bản của vật chất là địa đại, phong đại, hoả đại và thuỷ đại.

Sāvatthinidānaṃ . Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi :

... Nhân duyên ở (Sāvatthī ), Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

(Vị Thiên)

''Kuto sarā nivattanti, kattha vaṭṭaṃ na vattati.

Kattha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhatīti..

Chỗ nào nước chảy ngược?

Chỗ nào nước xoáy dừng?

Chỗ nào danh và sắc,

Ðược đoạn diệt, không dư?

Bản hiệu đính:

Ở đâu suối chảy ngược?

Vòng luân chuyển ngừng xoay?

Ở đâu danh và sắc

Tịch diệt, không mảy may?

(Thế Tôn)

''Yattha āpo ca pathavī, tejo vāyo na gādhati.

Ato sarā nivattanti, ettha vaṭṭaṃ na vattati.

Ettha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhatīti..

Chỗ nào nước và đất,

Lửa, gió không vững trú,

Do vậy nước chảy ngược,

Chỗ ấy nước xoáy dừng,

Chỗ ấy danh và sắc,

Ðược đoạn diệt, không dư.

Bản hiệu đính:

Ở đâu đất, nước, lửa,

Và gió vô sở trụ,

Ở đấy suối chảy ngược,

Vòng luân chuyển ngừng xoay,

Ở đấy danh và sắc,

Tịch diệt, không mảy may.

 

yattha: bất cứ nơi đâu

āpo: nước

pathavī: đất

tejo: lửa

vāyo: gió

na gādhati: không an lập, vô sở trụ

ato: ở đấy

sarā: giòng suối, thuỷ lưu

nivattanti: quay đầu, đi ngược

ettha: ở đấy

vaṭṭaṃ: vòng luân chuyển

na vattati: không quay

nāma: danh, tâm thức

rūpa: sắc, vật chất

asesaṃ: hoàn toàn

uparujjhati: tịch tịnh

Theo Sớ giải thì vị thiên hỏi về sự chấm dứt giòng sanh tử. Đức Phật nói về Niết bàn trong cách nói tương đối đơn giản là sự chấm dứt bốn đại chủng. Đây là cách nói rất tương đối như nói về sự chấm dứt hai mắt xích danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc. Cả hai đều liên hệ nhiều đến bố đại chủng. Nói ngắn gọn như vậy không phải là đầy đủ nhưng đáp ứng khả năng lãnh hội của người tham vấn.

Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu

Biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-

7. Sarasuttaṃ [Mūla]

27. ''Kuto sarā nivattanti, kattha vaṭṭaṃ na vattati.

Kattha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhatīti..

''Yattha āpo ca pathavī, tejo vāyo na gādhati.

Ato sarā nivattanti, ettha vaṭṭaṃ na vattati.

Ettha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhatīti..

7. Sarasuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]

27. Sattame kuto sarā nivattantīti ime saṃsārasarā kuto nivattanti, kiṃ āgamma nappavattantīti attho. Na gādhatīti na patiṭṭhāti. Atoti ato nibbānato. Sesaṃ uttānatthamevāti. Sattamaṃ.