Môn học: PĀLI PHÁP CÚ || XV. Phẩm Phẫn Nộ (Kodhavagga) - Kệ số 5 (dhp 225)

Thursday, 04/01/2024, 19:17 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: PĀLI PHÁP CÚ

Bài học thứ năm   4.1.2023

XVII

Phẩm Phẫn Nộ

 (Kodhavagga)

XVII. Phẩm Phẫn Nộ_Kệ số 5 (dhp 225)

Chánh văn:

Ahiṃsakā ye munayo

niccaṃ kāyena saṃvutā

te yanti accutaṃ ṭhānaṃ

yattha gantvā na socare.

(dhp 225)

Chuyển văn:

Ye munayo ahiṃsakā niccaṃ kāyena saṃvutā te yattha gantvā na socare accutaṃ ṭhānaṃ yanti.

Thích văn:

Ahiṃsakā [chủ cách, số nhiều, nam tính, tính từ ahiṃsaka (na + himsā + aka)] không hãm hại, không não hại.

Ye [chủ cách, số nhiều, nam tính, quan hệ đại từ ya] những ai, những người nào.

Munayo [chủ cách, số nhiều, nam tính, danh tù muni] các vị hiền sĩ, các vị hiền trí.

Niccaṃ [trạng từ] luôn luôn, thường xuyên.

Kāyena [sở dụng cách, số ít, nam tính, danh từ kāya] bởi thân, với thân.

Saṃvutā [chủ cách, số nhiều, nam tính, quá khứ phân từ saṃvuta (động từ saṃvarati)] thu thúc, phòng hộ.

Te [chủ cách, số nhiều, nam tính, chỉ thị đại từ ta] những người ấy, những vị ấy.

Yanti [động từ tiến hành cách “yā + a”, ngôi III, số nhiều] đi đến.

Accutaṃ [đối cách, số ít, trung tính, tính từ accuta (na + cuta quá khứ phân từ cavati)] bất tử, không chết.

Ṭhānaṃ [đối cách, số ít, trung tính, danh từ ṭhāna] vị trí, nơi chốn.

Yattha [trạng từ] nơi nào, chổ nào.

Gantvā [bất biến quá khứ phân từ của động từ gacchati (gam + tvā)] sau khi đến, đã đến rồi.

Na [phân từ phủ định] không, không có.

Socare [động từ tiến hành cách, loại attanopada “suc + a + are”, ngôi III, số nhiều] sầu muộn, buồn rầu.

Việt văn:

5. Bậc hiền trí, bất hại

luôn thúc liễm thân tâm

đi đến chổ bất tử

nơi mà đến không sầu.

(pc 225)

Những ai là bậc hiền trí, sống bất hại, thường thúc liễm thân tâm, những vị ấy đi đến chổ bất tử, nơi mà đi đến không có sầu muộn.

Duyên sự:

Bài kệ này, đức Phật thuyết khi Ngài trú tại khu rừng Añjana, gần thành Sāketa, nhân các tỳ kheo hỏi về sự tái sanh của hai vợ chồng bà la môn chứng A la hán.

Khi ấy, đức Thế Tôn với tăng chúng vào thành Sāketa khất thực, có một lão bà la môn từ trong thành đi ra; vừa gặp đức Phật, ông ta trỗi dậy tình thương của người cha gặp lại con trai, bèn nắm tay đức Phật dắt về nhà mình. Bà vợ của lão cũng sanh lòng yêu thương Phật, như một người con trai mới trở về sau bao năm xa cách. Hai ông bà xưng hô là cha mẹ và gọi đức Phật là con trai.

Hai ông bà thỉnh Phật hãy thường xuyên về nhà mình để thọ thực. Họ cúng dường đến đức Phật và chư tăng đầy đủ.

Hai ông bà được nghe đức Phật thuyết pháp, đã chứng đắc A na hàm.

Mùa mưa ấy, đức Thế Tôn nhận lời hai ông bà, đã an cư ba tháng mùa mưa tại Sāketa. Ông bà đã hộ độ đức Phật và chúng tỳ kheo rất chu đáo.

Mãn mùa an cư, hai ông bà vị bà la môn chứng đắc A la hán và viên tịch níp bàn trong hình thức cư sĩ. Các Thiện tín trong thành Sāketa đã làm lễ hoả táng hai ông bà trọng thể. Đức Phật dẫn 500 tỳ kheo đi đến nơi hoả táng.

Dân chúng nghe tin cha mẹ của đức Phật chết thì họ rủ nhau đến chổ hoả táng phân ưu cùng với đức Phật.

Thay vì đính chánh, đức Phật quán xét duyên lành của hội chúng và thuyết bài Kinh Sự già (Jarāsutta) Sn.810_hợp với căn duyên trong hoàn cảnh đặc biệt này. Dứt thời pháp, có rất nhiều chúng sanh chứng ngộ.

Chư tỳ kheo không biết hai ông bà bà la môn đã viên tịch (parinibbutabhāva), nên đã bạch hỏi đức Phật cảnh giới tái sanh của hai ông bà. Đức Phật phán: “Này chư tỳ kheo, không có sự tái sanh đối với các bậc trí giả vô học như vậy, bởi vị ấy đã chứng đắc níp bàn bất tử rồi. Nói xong đức Phật thuyết bài kệ: Ahiṃsakā ye munayo…v.v…yattha gantvā na socare’ ti.

Dứt pháp thoại có nhiều vị tỳ kheo đắc chứng thánh quả dự lưu.

Lý giải:

Trong bài kệ này, danh từ munayo (muni) nói cho đủ là asekhamunayo_các bậc trí giả vô học, chỉ cho vị đã đắc đạo quả A la hán.

Kāyena saṃvutā_thân thu thúc. Trong giới hạn kệ ngôn chỉ nói thế, nhưng phải hiểu là cả ba môn thân, khẩu, ý đều đã thúc liễm.

Accutaṃ ṭhānaṃ_chổ bất tử. Đây ám chỉ trạng thái níp bàn. Níp bàn thì bất sanh bất tử. Accuta đồng nghĩa với Amata.

Yattha gantvā na socare_nơi mà đến không sầu. Mô tả níp bàn, người đạt đến níp bàn thì không còn khổ sanh, già, bệnh, chết nữa.

Hai vợ chồng bà la môn đã đắc quả A la hán. Người cư sĩ vẫn có thể đắc Lậu Tận, nhưng trong bảy ngày sẽ viên tịch, vô dư y níp bàn. Quả vị A la hán chỉ có hình thức xuất gia mới duy trì được mạng sống lâu dài, bởi là quả vị vô cùng cao quí, như viên ngọc quí phải được cất giữ trong nơi an toàn.

Hai vợ chồng người bà la môn đều gọi đức Phật là con trai, họ có tình thương của cha mẹ đối với con trai mình. Khi các tỳ kheo hỏi tại sao họ nhận như vậy? Thì đức Phật đã cho biết, họ đã từng là cha mẹ của Ngài trong 500 kiếp sống quá khứ, nên đối với Ngài họ có tình phụ tử, tình mẩu tử sâu đậm.

Vì sao trường hợp này, đức Phật không đính chánh mà mặc nhiên chấp nhận? Vì đức Phật đã quán xét căn lành của họ sẽ chứng đắc quả A la hán, đây là kiếp chót của họ, hãy để họ hoan hỷ mới tiếp cận với giáo pháp.

Tỳ kheo Tuệ Siêu biên soạn