Môn học: PĀLI PHÁP CÚ || XV. Phẩm Phẫn Nộ (Kodhavagga) - Kệ số 11, 12, 13, 14 (dhp 231, 232, 233, 234)

Sunday, 14/01/2024, 17:54 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: PĀLI PHÁP CÚ

Bài học thứ năm 14 .1.2023

XVII

Phẩm Phẫn Nộ

 (Kodhavagga)

XVII. Phẩm Phẫn Nộ_Kệ số 11, 12, 13, 14 (dhp 231, 232, 233, 234)

Chánh văn:

11. Kāyappakopaṃ rakkheyya

kāyena saṃvuto siyā

kāyaduccaritaṃ hitvā

kāyena succaritaṃ care.

(dhp 231)

12. Vacīpakopaṃ rakkheyya

manasā saṃvuto siyā

vacīduccaritaṃ hitvā

vācāya sucaritaṃ care.

(dhp 232)

13. Manopakopaṃ rakkheyya

manasā saṃvuto siyā

manoduccaritaṃ hitvā

manasā sucaritaṃ care.

(dhp 233)

14. Kāyena saṃvutā dhīrā

atho vācāya saṃvutā

manasā samvutā dhīrā

te ve suparisaṃvutā.

(dhp 234)

Chuyển văn:

11. Kāyappakopaṃ rakkheyya kāyena saṃvuto siyā kāyaduccaritaṃ kāyena sucaritaṃ care.

12. Vacīpakopaṃ rukkheyya vācāya saṃvuto siyā vacīduccaritaṃ hitvā vācāya sucaritaṃ care.

13. manopakopaṃ rakkeyya manasā saṃvuto siyā manoduccaritaṃ hitvā manasā sucaritaṃ care.

14. Dhīrā kāyena saṃvutā atho vācāya saṃvutā manasā saṃvutā te dhīrā ve suparisaṃvutā.

Thích văn:

Kāyapakopaṃ [đối cách, số ít, nam tính, hợp thể danh từ kāyappakopa (kāya + pakopa)] thân phẫn nộ, sự nóng giận thể hiện qua thân.

Rakkheyya [động từ khả năng cách “rakk + a + eyya”, ngôi III, số ít] nên canh phòng, nên canh giữ.

Kāyena [sở dụng cách, số ít, nam tính, danh từ kāya] bởi thân, do thân.

Saṃvuto [chủ cách, số ít, nam tính, tính từ saṃvuta (quá khứ phân từ của động từ saṃvarati)] được thu thúc.

Siyā [động từ khả năng cách “as + a”, ngôi III, số ít] phải là, phải có.

Kāyaduccariyaṃ [đối cách, số ít, trung tính, hợp thể danh từ kāyaduccarita (kāya + duccarita)] thân ác hạnh, hành động xấu bằng thân_kāyena duccaritaṃ.

Hitvā [bất biến quá khứ phân từ của động từ jahati (hā + tvā, “ā” của động từ căn đổi thành “i”)] sau khi từ bỏ, sau khi dứt bỏ.

Sucaritaṃ [đối cách, số ít, trung tính, hợp thể danh từ sucarita (su + carita)] thiện hạnh, hành động tốt. Kāyena sucaritaṃ hành động tốt bằng thân, thân thiện hạnh.

Care [động từ khả năng cách “car + a + e”, ngôi III, số ít] nên thực hành, phải thực hành.

Vacīpakopaṃ [đối cách, số ít, nam tính, hợp thể danh từ vacīpakopa (vacī + pakopa)] khẩu phẩn nộ, sự nóng giận thể hiện qua lời nói.

Vācāya [sở dụng cách, số ít, nữ tính, danh từ vācā] bằng lời nói, bởi lời nói, bằng khẩu.

Vacīduccaritaṃ [đối cách, số ít, trung tính, hợp thể danh từ vacīduccarita (vacī + duccarita)] khẩu ác hạnh, ác hạnh bằng miệng, ác hạnh bằng lời nói.

Vācāya rucaritaṃ: khẩu thiện hạnh, thiện hạnh bằng lời nói.

Manopakopaṃ [đối cách, số ít, nam tính, hợp thể danh từ manopakopa (mana + pakopa. Biệt ngữ mana trong danh từ ghép, biến thành mano)] ý phẫn nộ, sự nóng giận thể hiện qua ý.

Manasā [sở dụng cách, số ít, nam tính, danh từ biệt ngữ mana] bằng ý, bởi ý.

Manoduccaritaṃ [đối cách, số ít, trung tính, hợp thể danh từ manoduccarita (mana + duccarita)] ý ác hanh, ác hạnh bằng ý.

Manasā sucaritaṃ: ý thiện hạnh, thiện hạnh bằng ý.

Dhīrā [chủ cách, số nhiều, nam tính, danh từ dhīra] các bậc trí.

Atho [bất biến từ] rồi thì.

Saṃvutā [chủ cách, số nhiều, nam tính, tính từ saṃvuta (quá khứ phân từ của động từ saṃvarati)] được thu thúc.

Te [chủ cách, số nhiều, nam tính, chỉ thị đại từ ta] những vị ấy, các vị ấy.

Ve [bất biến từ] quả thật! thật sự là.

Suparisaṃvutā [chủ cách, số nhiều, nam tính, hợp thể tính từ suparisaṃvuta (su + pari + saṃvuta) thu thúc toàn diện, thu thúc hoàn hảo.

Việt văn:

11. Canh phòng thân phẫn nộ

phải thu thúc thân hành

nên bỏ thân ác hạnh

tu tập thân thiện hạnh.

(pc 231)

12. Canh phòng khẩu phẫn nộ

phải thu thúc khẩu hành

nên bỏ khẩu ác hạnh

tu tập khẩu thiện hạnh.

(pc 232)

13. Canh phòng ý phẫn nộ

phải thu thúc ý hành

nên bỏ ý ác hạnh

tu tập ý thiện hạnh.

(pc 233)

14. Bậc trí thu thúc thân

thu thúc luôn lời nói

thu thúc cả ý nghĩ

là thu thúc toàn diện.

(pc 234)

11. Phải canh phòng sự nóng giận qua thân, phải thu thúc về thân, sau khi từ bỏ thân ác hạnh nên thực hành thân thiện hạnh.

12 Phải canh phòng sự nóng giận qua lời, thu thúc về khẩu, sau khi từ bỏ khẩu ác hạnh nên thực hành khẩu thiện hạnh.

13. Phải canh phòng sự nóng giận qua ý, phải thu thúc về ý, sau khi từ bỏ ý ác hạnh nên thực hành ý thiện hạnh.

14. Các bậc trí đã thu thúc thân, đã thu thúc khẩu, đã thu thúc ý, các bậc trí ấy thật sự đã thu thúc toàn diện.

Duyên sự:

Những bài kệ này, đức Phật thuyết khi Ngài trú tại Veluvana, gần thành Rājagaha, do chuyện các tỳ kheo phe lục sư.

Các vị tỳ kheo lục sư, trong lúc đi kinh hành mang guốc gỗ và tay cầm gậy đã tạo ra tiếng lộp cộp, ồn ào.

Đức Thế Tôn nghe tiếng lộp cộp đó, Ngài hỏi thị giả Ānanda: “Âm thanh gì thế, Ānanda?”

Tôn giả Ānanda đáp: “Bạch Thế Tôn, đó là tiếng gậy, tiếng guốc của các tỳ kheo lục sư đi kinh hành”.

Sau đó, đức Thế Tôn gọi chư tỳ kheo đến, Ngài dạy: “Là vị tỳ kheo phải giữ thân khẩu ý cho đứng đắn”. Nói xong, Ngài thuyết pháp cho chúng tỳ kheo và kết luận với bốn bài kệ này.

Cuối pháp thoại, có nhiều vị tỳ kheo chứng đắc thành quả.

Lý giải:

Chuyện đi kinh hành chống gậy mang guốc của vài vị tỳ kheo, tạo ra tiếng ồn…đó chỉ là chuyện nhỏ thôi, nhưng đức Thế Tôn đã lấy đó làm duyên cớ để thuyết pháp dạy chư đệ tử.

Là vị tỳ kheo phải biết giữ ý tứ oai nghi thân, giữ ý tứ luôn cả lời nói và tư tưởng cho thích hợp, tránh làm phiền người chung quanh. Đó là sự sinh hoạt trong cộng đồng.

Còn trong sự tu tập, là tỳ kheo phải canh phòng thân, khẩu, ý. Thân hành ác quấy (Kāyappakopaṃ) như sát sanh, trộm cắp, tà dâm; khẩu hành ác quấy (vacipakopaṃ) như nói dối, nói ly gián, nói độc ác, nói vô ích; ý hành ác quấy (manopakopaṃ) như tham lam, sân hận, tà kiến. Chữ pakopa theo chú giải thì đồng nghĩa với duccarita.

Người tu phải cải ác (bỏ điều ác) tùng thiện (hành theo điều thiện). Bỏ ác hành thiện, đây gọi là thu thúc thân (kāyena saṃvuto), thu thúc khẩu (vācāya saṃvuto), thu thúc ý (manasā saṃvuto).

Bậc trí thu thúc ba môn như thế gọi là bậc thu thúc toàn diện (suparisaṃvutā).

Dứt phẩm thứ mười bảy

Phẩm phẫn nộ

Tỳ kheo Tuệ Siêu biên soạn.