Môn học: PĀLI PHÁP CÚ || XV. Phẩm An Lạc (Sukhavagga) - Kệ số 4 (dhp 200)

Monday, 16/10/2023, 18:03 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: PĀLI PHÁP CÚ

Bài học chủ nhật  15.10.2023

XV

Phẩm An Lạc (Sukhavagga)

XV. Phẩm An Lạc_Kệ số 4 (dhp 200)

Duyên sự:

Bài kệ này, đức Phật thuyết cho ma vương khi Ngài ngự tại ngôi làng Bà la môn Pañcasālā.

Một ngày kia, đức Phật sau khi quán thấy duyên lành đạo quả dự lưu của 500 thiếu nữ, nên Ngài đến tận ngôi làng ấy. Trong ngày hội cúng sao, các thiếu nữ kia đã đi đến con sông, sau khi tắm, trang điểm chỉnh chu mới ra đi hướng về ngôi làng.

Bậc đạo sư cũng đi vào làng khất thực.

Rồi Ma vương quấy nhiễu tất cả người trong làng, thôn dân bị Ma ám, họ làm như không thấy đức Phật đang khất thực, hoặc thấy nhưng không nghĩ đến việc cúng dường. Vì vậy, đức Phật vào làng khất thực không nhận được dù là một muỗng cháo.

Ma vương làm như vậy rồi liền đứng tại cổng làng. Khi đức Phật từ trong làng đi ra, ma vương đã hỏi Ngài: “Này Sa môn, ông không nhận được chút thức ăn gì à?”

Đức Phật đáp: “Đúng vậy, ta không nhận được chút vật thực nào! Tại sao ngươi lại làm thế?”

Ma vương trêu cợt đức Phật: “Nếu vậy thì Sa môn hãy trở lại khất thực trong làng một lần nữa xem!” Ma vương tính làm nhục đức Phật, nếu Ngài nghe lời trở vào làng một lần nữa, hắn sẽ ám dân làng cười nhạo phỉ báng Phật.

Ngay lúc đó, năm trăm thiếu nữ kia vừa đến cổng làng, họ nhìn thấy đức Phật liền đảnh lễ Ngài, rồi đứng sang một bên.

Ma vương đã nói với đức Phật: “Ông không nhận được chút vật thực nào chắc sẽ bị đói hoành hành!”

Đức Phật phán: “Này kẻ tội lỗi, hôm nay dù không nhận được thức ăn gì, nhưng ta sẽ trải qua với phỉ lạc như đại phạm thiên cõi Quang âm (Ābhassaraloke) vậy”. Rồi đức Phật thuyết lên bài kệ: Susukhaṃ vata jīvāma…v.v…devā ābhassarā yathā’ ti.

Thế tôn nói dứt bài kệ ngôn, thì năm trăm thiếu nữ đứng nơi ấy được an trú vào quả Dự Lưu.

Chánh văn:

4. Susukhaṃ vata jīvāma

yesaṃ no natthi kiñcanaṃ

pītibhakkhā bhavissāma

devā ābhassarā yathā.

(dhp 200)

Thích văn:

Susukhaṃ [trạng từ] hạnh phúc thay! Vui thay!

Vata [bất biến từ] thật là! quả là!

Jīvāma [động từ, ngôi I, số nhiều] (chúng ta) sống, (chúng tôi) sống.

Yesaṃ [sở thuộc cách, số nhiều, nam tính, quan hệ đại từ ya] của những ai, của những người nào.

No [sở thuộc cách, số nhiều, nhân xưng đại từ amha] của chúng tôi, của chúng ta.

Natthi [động từ phủ định “na + atthi”] không có.

Kiñcanaṃ [chủ cách, số ít, trung tính, danh từ kiñcana] vật sở hửu, một thứ gì.

Pītibhakkhā [chủ cách, số nhiều, nam tính, hợp thể tính từ pītibhakkha     (pīti + bhakkha)] nuôi sống bằng phỉ lạc, thọ dụng phỉ lạc.

Bhavissāma [động từ tương lai cách “bhū + issa”, ngôi I, số nhiều] (chúng ta) sẽ là, (chúng tôi) sẽ là.

Devā [chủ cách, số nhiều, nam tính, danh từ deva] chư thiên, các vị thiên, những vị trời.

Ābhassarā [chủ cách, số nhiều, nam tính, tính từ ābhassara] ánh sáng chói loà, hào quang rực rở; thuộc cõi Biến Quang thiên.

Yathā [trạng từ] như thể, như là.

Việt văn:

4. Vui thay, chúng ta sống.

không thứ gì của ta,

ta nuôi sống với hỷ.

như chư thiên Biến Quang.

(pc 200)

Chuyển văn:

4. Susukhaṃ vata yesaṃ no kiñcanaṃ natthi Jīvāma Ābhassarā devā yathā pītibhakkhā bhavissāna.

Hạnh phúc thay, ta sống không có gì là của ta. Ta sẽ nuôi sống bằng phỉ lạc, như các vị trời cõi Biến Quang.

Lý giải:

Bài kệ pháp cú này đức Phật thuyết cho Ác ma nghe, để trả lời câu hỏi trêu chọc của Ác ma: Thưa Ngài, không nhận được miếng ăn, chắc Ngài bị cơn đói hoành hành?

Đức Phật đáp: Ta vẫn sống an lạc (Susukhaṃ vata jīvāma) bởi trong ta không có một chút gì thèm khát (yesaṃ no natthi kiñcanaṃ_ rāgādīsu kiñcanesu ekampi kiñcanaṃ natthi).

Có một ý nghĩa nữa: Ta vẫn sống an lạc (susukhaṃ vata jīvāma) bởi dù không nhận được chút thức ăn gì, nhưng ta sẽ nuôi sống bằng phỉ lạc, cũng như các vị cõi trời Biến Quang (yathā ābhassarādevā, mayaṃ kiñci alabhitvā pītibhakkhā bhavissāma).

Nên hiểu thí dụ trong bài kệ: Như chư thiên Biến Quang (devā ābhassarā yathā), như sau:

Cõi Phạm thiên Biến Quang hay Quang Âm (Ābhassarabhūmi), là địa hạt của vị phạm chủ trong cõi Nhị thiền, là cõi phạm thiên cao tột ở cõi Nhị thiền. Từ cõi này trở xuống, tới cõi phạm chúng thiên (brahmaparisajjabhūmi), là sáu cõi phạm thiên sống bằng hỷ lạc của thiền (pītibhakkhāhutvā pītisukheneva vītināmenti brahmā).

Sáu cõi phạm thiên sống nhờ hỷ lạc của thiền, đó là Phạm Chúng Thiên (Brahmaparisajjā), Phạm Phụ Thiên (brahmapurohitā), Đại Phạm Thiên (Mahābrahmā), Thiểu Quang Thiên (parittābhā), Vô Lượng Quang Thiên (Appamāṇābhā) và Biến Quang Thiên hay Quang Âm Thiên (Ābhassarā). Gồm ba cõi Sơ thiền và ba cõi Nhị thiền.

Ở đây, trong bài kệ Ngài nói: Ta nuôi sống với hỷ, như chư thiên Biến Quang (pītibhakkhā bhavissā devā Ābhassarā yathā), là Ngài đơn cử cõi phạm thiên cao tột trong sáu cõi phạm thiên (ba cõi sơ thiền và ba cõi nhị thiền), là những cõi mà các vị thiên ở đấy chỉ nuôi sống bằng hỷ lạc (pītisukhen’ eva)./.

Tỳ kheo Tuệ Siêu biên soạn