Môn học: PĀLI PHÁP CÚ - II. Phẩm Không Dể Duôi _ Kệ số 8

Sunday, 19/06/2022, 09:37 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: PĀLI PHÁP CÚ

Bài học ngày 19.6.2022


II. Phẩm Không Dể Duôi _ Kệ số 8

Duyên sự:

Bài kệ nầy được đức Phật thuyết khi Ngài ngự tại chùa Jetavana thành Sāvatthi do chuyện tôn giả Mahākassapa.

Một hôm, đức Thế Tôn đang ngồi tại Jetavana, Ngài liên tưởng đến tôn giả Mahākassapa đang trú tại thạch động Pipphaliguhā: “Hôm nay thích tử Kassapa an trú với loại trú pháp gì?” Ngài liền hiểu là tôn giả Mahākassapa sau khi khất thực về ăn xong đã dùng thiên nhãn quan sát sự sanh tử của các chúng sanh. Đức Phật nói lên bài kệ: “Pamādaṃ appamādena yadā nudati paṇḍito ..v.v.., bậc trí dẹp buông lung với hạnh không dể duôi ..v.v..”.

Dứt bài kệ có nhiều vị tỳ kheo đắc quả dự lưu.

*

Chánh văn:

Pamādaṃ appamādena

yadā nudati paṇḍito

paññāpāsādamāruyha

asoko sokiniṃ pajaṃ

pabbataṭṭho’ va bhummaṭṭhe

dhīro bāle avekkhati

(dhp 28)

*

Thích văn:

pamādaṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính pamāda] sự buông lung, sự giải đãi, sự dể duôi.

appamādena [sở dụng cách số ít của danh từ hợp thể appamāda (na + pamāda)] sự không buông lung, không giải đãi, không dể duôi.

yadā [trạng từ] khi nào mà.

nudati [hiện tại ngôi III số ít, động từ nudati (nud + a)] xua tan, đẩy lui, dẹp bỏ.

paṇḍito [chủ cách số ít của danh từ nam tính paṇḍita] bậc hiền trí, người trí.

paññāpāsādamāruyha [hợp âm (paññāpāsādaṃ āruyha)]

paññāpāsādaṃ [đối cách số ít của danh từ hợp thể paññāpāsāda (paññā + pāsāda)] lâu đài trí tuệ, lầu trí.

āruyha [bất biến quá khứ phân từ của động từ āruhati ( ā + ruh + ya)] leo lên, trèo lên, bước lên.

asoko [chủ cách số ít của danh từ nam tính asoka] bậc vô ưu, người không sầu.

sokiniṃ [đối cách số ít nữ tính của tính từ sokinī (soka + inī)] sầu muộn, buồn rầu.

pajaṃ [đối cách số ít của danh từ nữ tính pajā] đám người, nhóm người, quần chúng.

pabbataṭṭho’ va [hợp âm (pabbataṭṭho iva)]

pabbataṭṭho [chủ cách số ít nam tính của danh từ hợp thể pabbataṭṭha (pabbata + ṭha)] đứng trên núi.

iva [bất biến từ] như, ví như.

bhummaṭṭhe [đối cách số nhiều nam tính của danh từ hợp thể bhummaṭṭha (bhumma + ṭha)] đứng trên mặt đất, đứng dưới đất bằng.

dhīro [chủ cách số ít của danh từ nam tính dhīra] người trí, người sáng suốt.

bāle [đối cách số nhiều của danh từ nam tính bāla] những kẻ ngu, các người khờ dại.

avekkhati [thì hiện tại ngôi III số ít, động từ avekkhati (ava + căn ikkh + a)] nhìn xuống, trông xuống.

*

Việt văn:

Với hạnh không dể duôi

người trí dẹp buông lung

leo lầu cao trí tuệ

vô ưu nhìn chúng sầu

bậc trí đứng núi cao

nhìn kẻ ngu dưới triền.

(pc 28)

*

Chuyển văn:

Yadā appamādena pamādaṃ nudati asoko paṇḍito paññāpāsādaṃ āruyha sokiniṃ pajaṃ avekkhati. Dhīro bāle avekkhati pabbataṭṭho’ va bhummaṭṭhe.

Khi với hạnh không dể duôi dẹp bỏ phóng túng, bậc trí vô ưu bước lên lâu đài trí tuệ nhìn xuống đám người sầu muộn; Người trí nhìn kẻ dại như người đứng trên núi cao nhìn xuống những người ở dưới đất bằng.

*

Lý giải:

Đức Phật nói lên bài kệ 28 nầy, Ngài ca ngợi vị A la hán. Khi Ngài quán thấy tôn giả Mahākassapa sống trú với thiên nhãn nhìn lại chúng sanh còn lặn hụp trong bể trầm luân sanh tử mà khởi lòng bi mẫn muốn cứu giúp họ.

Khi vị A la hán với tâm bi nhìn chúng sanh đang sanh tử, đó là bậc vô ưu nhìn quần chúng ưu sầu, và tựa hồ như người đứng trên đỉnh núi trông xuống đám người còn đứng dưới đất vậy.

Lẽ thường, người trí mới đánh giá và biết được kẻ ngu, còn nói chi là bậc đã vượt khỏi trình độ phàm phu nhìn lại kẻ phàm tục.

Biên soạn giáo trình: Tỳ khưu Tuệ Siêu