Môn học: THẮNG PHÁP PHỔ THÔNG || THẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMATTHASAṄGAHA) - Thiện Nghiệp Sắc Giới Và Vô Sắc Giới.

Sunday, 04/02/2024, 16:19 GMT+7

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

Môn học: THẮNG PHÁP PHỔ THÔNG

Bài học ngày 2.2.2024

THẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMATTHASAṄGAHA)

Bài 79. Thiện Nghiệp Sắc Giới và Vô Sắc Giới

[Thiện Nghiệp Sắc Giới]

Rūpāvacarakusalaṁ pana manokammameva. Tañ ca bhāvanāmayaṁ appanāppattaṁ jhānangabhedena pañcavidhaṁ hoti.

Thiện nghiệp sắc giới thuần tuý là ý nghiệp, sanh khởi do thiền định, gồm năm thiền chứng dựa trên thiền chi.

[Thiện Nghiệp Vô Sắc Giới]

Tathā arūpāvacarakusalañ ca manokammaṁ. Tam pi bhāvanāmayaṁ appanāppattaṁ ālambanabhedena catubbidhaṁ hoti.

Tương tự như vậy, thiện nghiệp vô sắc giới thuần tuý là ý nghiệp, sanh khởi do thiền định, gồm bốn thiền chứng dựa trên thiền cảnh.

Chú Thích

Những thiện nghiệp sắc giới và vô sắc giới ở đây, chỉ tính từ giai đoạn thể nhập tam muội định, chứ không tính giai đoạn tu tập chưa đắc chứng. Thí dụ, một người tu thiền định về bốn phạm trú từ, bi, hỷ, xả thì thiện nghiệp sắc giới chỉ tính từ lúc đắc thiền chứng (sơ thiền, nhị thiền…), chứ không tính thời gian tu tập trước đó.

Thiền chứng, tuy là kết quả của sự tu tập, nhưng ở đây là nhân sanh về các cõi thiền chứ không kể là quả. Và chỉ có thể là thiện nghiệp sanh về cõi thiền, nếu không bị hoại thiền trước khi mạng chung. Thí dụ, như trường hợp Tỳ khưu Devadatta từng chứng thiền, nhưng sau này hoại thiền, thì những thiền chứng trước kia không tạo tâm quả sanh vào cõi sắc giới.

Thuần tuý là ý nghiệp (manokammameva), vì đây là những thiền chứng tam muội định, hoàn toàn không liên hệ tới thân nghiệp và khẩu nghiệp.

Thiện nghiệp sắc giới theo Thắng Pháp Tạng có 5, phân chia theo thiền chi: là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền và ngũ thiền. Sơ thiền có 5 thiền chi là tầm, tứ, hỷ, lạc, định. Nhị thiền có 4 thiền chi là tứ, hỷ, lạc và định. Tam thiền có 3 thiền chi là hỷ, lạc và định. Tứ thiền có 2 thiền chi là lạc và định. Ngũ thiền có hai thiền chi là xả và định. Thiền chi chỉ có 5 là tầm, tứ, hỷ, lạc và định, nhưng ở ngũ thiền thì không còn là lạc, mà thay vào đó là xả. Xả trong ngũ thiền là thiền chi, nhưng trong liệt kê 5 chi thiền thì không đề cập tới. Kinh Tạng chỉ đề cập 4 thiền sắc giới với sự khác biệt về nhị thiền. Nhị thiền theo Kinh Tạng thì “không tầm không tứ”, nhưng theo Thắng Pháp Tạng thì nhị thiền “vô tầm, hữu tứ”.

Thiện nghiệp vô sắc giới 4 phân chia theo thiền cảnh là không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tất cả tâm thiện vô sắc giới đều là trình độ ngũ thiền, với hai thiền chi là định và xả. Sự phân biệt thứ bậc trong thiện nghiệp vô sắc giới, y cứ theo thiền cảnh như không vô biên, thức vô biên… Không có sự ghi nhận trong kinh điển về sự hoại thiền đối với những vị chứng thiền vô sắc giới.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và chú thích