![]() |
![]() |
Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ _ THANH TỊNH TĂNG ĐÚNG NGHĨA _ Kinh Jantu (Jantusuttaṃ) Thứ tư, 17/11/2021, 19:38 GMT+7 Lớp Phật Pháp Buddhadhamma Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA Bài học ngày 17.11.2021 THANH TỊNH TĂNG ĐÚNG NGHĨA Kinh Jantu (Jantusuttaṃ) (CHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM CÁC NGOẠI ĐẠO) (S.i, 61) Định chế Tăng già cho Đức Phật thiết lập để tạo điều kiện cho những ai muốn có đời sống tu tập tốt đẹp được tinh tiến. Khi cộng đồng Tăng chúng mở rộng cho nhiều người có cơ hội được vào tu thì có nhiều phức tạp. Cốt lõi của vấn đề là lối sống chứ không phải số lượng hay hình thức. Bài kinh nầy nói về một vị thiên thấy có những tỳ kheo sống ở Tuyết Sơn với sự buông lung, đánh mất phẩm chất cao quý của đời sống xuất gia theo lời Phật dạy. Vị thiên nầy tìm cách cảnh tỉnh với lời lẽ khẳng khái nhưng vẫn giữ sự tôn kính với đại tăng.
Theo Sớ giải đời sống bất hảo (dupposa) của một tỳ kheo được nhận biết với những điểm sau: Dao động (uddhatā): sống theo cảm tính không ý thức cái gì nên làm hay không nên làm theo luật nghi. Cao mạn (unnalạ̄): đề cao cá nhân giống như những cây sậy vươn cao nhưng rỗng tuếch. Nặng hình tướng (capalā): trau chuốt bề ngoài. Lắm mồm (Mukharā): Nói nhiều mà không nói chuyện đáng nói. Thất niệm (muttḥassatino): sống quên mình, không ý thức cái gì đang nói hay đang làm. Không tỉnh thức (asampajānā): vụng về, không sáng suốt trong hành động. Không định tỉnh (asamāhitā): Sống thiếu tu tập nội tâm như con thuyền không lái giữa biển khơi. Tâm buông lung (vibbhantacittā): như những con nai ngu ngốc lang thang ngoài đường tự biến thành con mồi cho thợ săn. Các căn không phòng hộ (pākatindriyā) không có sự tự chế, tự chủ khi thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm giống như người thế tục. Theo Sớ giải thì thiên tử Jantu nghĩ rằng cách tốt nhất để cảnh tỉnh những tỳ kheo giải đãi là nói giữa Tăng chúng thay vì trực tiếp với cá nhân nên lựa dịp lễ bố tát có chư tăng tụ hội. Cũng theo Sớ giải thì xác chết quăng bỏ trong bãi tha ma bị cấu xé, đục khoét bởi những loài chim hay côn trùng không có sự bảo vệ được thí dụ cho những tỳ kheo sống buông thả không nghe theo huấn thị của thầy tổ. Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng -ooOoo- 5. Jantusuttaṃ [Mūla] 106. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ sambahulā bhikkhū, kosalesu viharanti himavantapasse araññakuṭikāya uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā vibbhantacittā pākatindriyā. Atha kho jantu devaputto tadahuposathe pannarase yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū gāthāhi ajjhabhāsi – ‘‘Sukhajīvino pure āsuṃ, bhikkhū gotamasāvakā; Anicchā piṇḍamesanā [piṇḍamesānā (?)], anicchā sayanāsanaṃ; Loke aniccataṃ ñatvā, dukkhassantaṃ akaṃsu te. ‘‘Dupposaṃ katvā attānaṃ, gāme gāmaṇikā viya; Bhutvā bhutvā nipajjanti, parāgāresu mucchitā. ‘‘Saṅghassa añjaliṃ katvā, idhekacce vadāmahaṃ [vandāmahaṃ (ka.)]; Apaviddhā anāthā te, yathā petā tatheva te [tatheva ca (sī.)]. ‘‘Ye kho pamattā viharanti, te me sandhāya bhāsitaṃ; Ye appamattā viharanti, namo tesaṃ karomaha’’nti. 5. Jantusuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā]
106. Pañcame kosalesu viharantīti bhagavato santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā tattha gantvā viharanti. Uddhatāti akappiye kappiyasaññitāya ca kappiye akappiyasaññitāya ca anavajje sāvajjasaññitāya ca sāvajje anavajjasaññitāya ca uddhaccapakatikā hutvā. Unnaḷāti uggatanaḷā, uṭṭhitatucchamānāti vuttaṃ hoti. Capalāti pattacīvaramaṇḍanādinā cāpallena yuttā. Mukharāti mukhakharā, kharavacanāti vuttaṃ hoti. Vikiṇṇavācāti asaṃyatavacanā, divasampi niratthakavacanapalāpino. Muṭṭhassatinoti naṭṭhassatino sativirahitā, idha kataṃ ettha pamussanti. Asampajānāti nippaññā. Asamāhitāti appanāupacārasamādhirahitā, caṇḍasote baddhanāvāsadisā. Vibbhantacittāti anavaṭṭhitacittā, panthāruḷhabālamigasadisā. Pākatindriyāti saṃvarābhāvena gihikāle viya vivaṭaindriyā.
Jantūti evaṃnāmako devaputto. Tadahuposatheti tasmiṃ ahu uposathe, uposathadivaseti attho. Pannaraseti cātuddasikādipaṭikkhepo. Upasaṅkamīti codanatthāya upagato. So kira cintesi – ‘‘ime bhikkhū satthu santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā nikkhantā, idāni pamattā viharanti, na kho panete pāṭiyekkaṃ nisinnaṭṭhāne codiyamānā kathaṃ gaṇhissanti, samāgamanakāle codissāmī’’ti uposathadivase tesaṃ sannipatitabhāvaṃ ñatvā upasaṅkami. Gāthāhi ajjhabhāsīti sabbesaṃ majjhe ṭhatvā gāthā abhāsi.
Tattha yasmā guṇakathāya saddhiṃ nigguṇassa aguṇo pākaṭo hoti, tasmā guṇaṃ tāva kathento sukhajīvino pure āsuntiādimāha. Tattha sukhajīvino pure āsunti pubbe bhikkhū supposā subharā ahesuṃ, uccanīcakulesu sapadānaṃ caritvā laddhena missakapiṇḍena yāpesunti adhippāyena evamāha. Anicchāti nittaṇhā hutvā.
Evaṃ porāṇakabhikkhūnaṃ vaṇṇaṃ kathetvā idāni tesaṃ avaṇṇaṃ kathento dupposantiādimāha. Tattha gāme gāmaṇikā viyāti yathā gāme gāmakuṭā nānappakārena janaṃ pīḷetvā khīradadhitaṇḍulādīni āharāpetvā bhuñjanti, evaṃ tumhepi anesanāya ṭhitā tumhākaṃ jīvikaṃ kappethāti adhippāyena vadati. Nipajjantīti uddesaparipucchāmanasikārehi anatthikā hutvā sayanamhi hatthapāde vissajjetvā nipajjanti. Parāgāresūti paragehesu, kulasuṇhādīsūti attho. Mucchitāti kilesamucchāya mucchitā.
Ekacceti vattabbayuttakeyeva. Apaviddhāti chaḍḍitakā. Anāthāti apatiṭṭhā. Petāti susāne chaḍḍitā kālaṅkatamanussā. Yathā hi susāne chaḍḍitā nānāsakuṇādīhi khajjanti, ñātakāpi nesaṃ nāthakiccaṃ na karonti, na rakkhanti, na gopayanti, evamevaṃ evarūpāpi ācariyupajjhāyādīnaṃ santikā ovādānusāsaniṃ na labhantīti apaviddhā anāthā, yathā petā, tatheva honti. Pañcamaṃ. |
Link nội dung: https://chuaphapluan.com/vn/mon-hoc-tuong-ung-bo-thanh-tinh-tang-dung-nghia-kinh-jantu-jantusutta-.html |