![]() |
![]() |
Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ _ NỬA Ổ BÁNH MÌ LÀ BÁNH MÌ NHƯNG NỬA SỰ THẬT KHÔNG LÀ SỰ THẬT _ Kinh Pañcālacaṇḍa (Pañcālacaṇḍasuttaṃ) Wednesday, 13/10/2021, 15:01 GMT+7 Lớp Phật Pháp Buddhadhamma Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA Bài học ngày 13.10.2021 NỬA Ổ BÁNH MÌ LÀ BÁNH MÌ NHƯNG NỬA SỰ THẬT KHÔNG LÀ SỰ THẬT Kinh Pañcālacaṇḍa (Pañcālacaṇḍasuttaṃ) (CHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM THỨ NHẤT) (S.i,48) Có những lời xưng tán thoạt nghe rất tốt nhưng chỉ nói lên phân nữa sự thật – và do vậy – có thể sự hiểu biết sai lạc. Thiên tử Pañcālacaṇḍa tán thán Đức Phật là bậc đã chứng đắc và hiểu biết “sơ thiền” một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh mà theo ngôn ngữ ở đây là ngõ thoát giữa vòng vây của năm dục trưởng dưỡng. Điều nầy không sai nhưng chỉ nói một phần sơ đẳng của tám giải thoát và sự thành tựu vĩ đại là chứng ngộ niết bàn. Đức Phật qua câu trả lời ngắn gọn nói lên đạo lộ giải thoát phải có cả hai mặt chỉ và quán. Một điều thú vị của bài kinh nầy là trong Tăng Chi Bộ tập IV, Phẩm Pháp Chín Chi, bài kinh Pañcālacaṇḍa, Tôn giả Ānanda đã giải thích rõ cho Tôn giả Udāyi về sự hiểu biết phiến diện của thiên tử Pañcālacaṇḍa.
Theo lời giải thích của Tôn giả Ānanda thì chữ sambādha (sự vây hãm, cương toả) ở đây trong bước đầu là năm dục trưởng dưỡng và okāsa (lối mở, lối thoát) chỉ cho thiền chứng. Lối thoát đối với năm dục trưởng dưỡng nói chính xác là sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh. Cũng theo Sớ giải thì thiên tử Pañcālacaṇḍa trong tiền kiếp từng chứng sơ thiền nên xem đó là là sự thành tựu vĩ đại. Khi vị nầy tán thán Đức Phật cũng y cứ trên sự trãi nghiệm bản thân nên sự tán thán rất nghèo nàn. Paṭilīnanisabho có nghĩa là bậc Ngưu Vương ẩn sĩ. Riêng chữ Paṭilīna (ẩn sĩ) theo Tăng chi Bộ tập II 41,29-32 chỉ cho những bậc không còn ngã chấp. Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng -ooOoo- 7. Pañcālacaṇḍasuttaṃ [Mūla] 88. Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ ṭhito kho pañcālacaṇḍo devaputto bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi – ‘‘Sambādhe vata okāsaṃ, avindi bhūrimedhaso; Yo jhānamabujjhi [jhānamabudhā (ka. sī.), jhānamabuddhi (syā. kaṃ. pī. ka.)] buddho, paṭilīnanisabho munī’’ti. ‘‘Sambādhe vāpi vindanti (pañcālacaṇḍāti bhagavā), Dhammaṃ nibbānapattiyā; Ye satiṃ paccalatthaṃsu, Sammā te susamāhitā’’ti. 7. Pañcālacaṇḍasuttavaṇṇanā [Aṭṭhakathā] 88. Sattame sambādheti nīvaraṇasambādhaṃ kāmaguṇasambādhanti dve sambādhā. Tesu idha nīvaraṇasambādhaṃ adhippetaṃ. Okāsanti jhānassetaṃ nāmaṃ. Paṭilīnanisabhoti paṭilīnaseṭṭho. Paṭilīno nāma pahīnamāno vuccati. Yathāha – ‘‘kathañca, bhikkhave, bhikkhu paṭilīno hoti. Idha, bhikkhave, bhikkhuno asmimāno pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṃkato āyatiṃ anuppādadhammo’’ti (a. ni. 4.38; mahāni. 87). Paccalatthaṃsūti paṭilabhiṃsu. Sammā teti ye nibbānapattiyā satiṃ paṭilabhiṃsu, te lokuttarasamādhināpi susamāhitāti missakajjhānaṃ kathitaṃ. Sattamaṃ. |
Link nội dung: https://chuaphapluan.com/en/mon-hoc-tuong-ung-bo-nua-o-banh-mi-la-banh-mi-nhung-nua-su-that-khong-la-su-that-kinh-pa-c-laca-a-pa-c-laca-asutta-.html |